⚡Hiểu biết sâu
-
Cộng đồng, hệ sinh thái, hệ phức hợp:
-
Cộng đồng, hệ sinh thái, hệ phức hợp/Hệ phức hợp:
- Có nhiều cách mà con người dùng để thoát ra khỏi sự phức tạp
- Hệ phức hợp
- Có những vấn đề mà nếu ta thay đổi cách định nghĩa thì sẽ thay đổi cách giải quyết
- Khi cố điều khiển một hệ phức hợp bằng một hệ đơn giản, ta dễ gặp những hệ quả không mong muốn
- Muốn phát triển thì vào vòng lặp dương. Muốn bền vững thì vào vòng lặp âm
- Khả năng tạo ra được sự bền vững nằm ở việc có thấy được siêu vật hay không
- Mọi thứ luôn nằm ở chỗ cuối cùng bạn tìm thấy nó
- Mọi thứ sẽ trở nên phức tạp trước khi trở thành đơn giản
- Nếu ta muốn tác động vào hệ thống, ta phải đạt được quy mô
- Ta thường cẩn thận với những quyết định một lần
- Vòng lặp dương giúp củng cố tình trạng hiện tại, tránh sự tác động từ bên ngoài, tự bảo tồn chính nó
- ❓Liệu có thể có trí tuệ tập thể mà không có người dẫn dắt
- ❓Mối quan hệ giữa hệ phức hợp và siêu vật là gì
-
Cộng đồng, hệ sinh thái, hệ phức hợp/Hệ phức hợp/Bất định:
- Sự đáp ứng đòi hỏi ta nhận diện được rằng ta không thể hoàn toàn biết được tương lai của mình
- Một số người xem việc kết quả phụ thuộc vào xác suất là bất định, kể cả khi mình biết xác suất đó là gì. Một số người xem việc đó là tất định
- Độ tác động của quyết định, độ có sẵn của thông tin, trạng thái của môi trường là một trong nhiều thứ bất định
- Nhiều thứ ta thấy là bất định thực ra là vì không có thời gian để xác định quy luật hoặc kiểm nghiệm giả thiết
-
Cộng đồng, hệ sinh thái, hệ phức hợp/Hệ phức hợp/Phân cấp:
- Những hệ tập trung thì có ưu điểm là dễ quản lý và vận hành hiệu quả trong thời gian ngắn, nhưng nếu bị tấn công một cách có chiến lược thì dễ chết
- Sự hấp dẫn về hệ thống phân cấp đã ăn sâu vào tiềm thức của ta, mặc dù bộ não phát triển theo hướng rhizome
- Việc hướng đến sự ngăn nắp là đang hướng đến việc tạo ra một thế giới trong đầu
- Ý tưởng về rhizome khác với tư duy phi tuyến và hệ phức hợp ở chỗ nó đi tới được các khái niệm như bản đồ và cao nguyên
- ❓Hệ thống phân cấp đã có từ thời linh trưởng, chứ không cần phải tới thời Aristotle
-
Cộng đồng, hệ sinh thái, hệ phức hợp/Hệ phức hợp/Sự tự tổ chức:
- Giá trị của một mạng lưới điện thoại tỉ lệ với bình phương số thành viên của nó
- Hiệu ứng mạng là hiệu ứng mà mỗi một người dùng gia nhập vào mạng lưới sẽ tạo thêm giá trị và cải thiện chất lượng cho cả mạng lưới đó
- Phức tạp không có nghĩa là khó khăn
- Phức tạp không phải là có nhiều thành phần, mà là có nhiều sự tương tác giữa các thành phần
- Sự tự tổ chức là không tránh khỏi nhưng không dự báo trước được
- Sự tự tổ chức sự tạo mẫu hình một cách phi tuyến
- Trí tuệ đám đông được sinh ra từ sự đa dạng và độc lập của những cá nhân
-
Cộng đồng, hệ sinh thái, hệ phức hợp/Hệ sinh thái:
- Chung mục tiêu là không đủ. Còn phải chung giá trị nữa
- Con người dường như được thiết kế để thể hiện ý định qua cảm xúc hơn là lời nói
- Các cấu phần quan trọng của hệ sinh thái DNXH
- Hiện tượng khuếch tán trách nhiệm, người ngoài đứng nhìn khiến cho ngay cả khi ta thấy người khác chịu khổ sở và rất cần được giúp thì mong muốn giúp đỡ cũng bị tê liệt
- Một hệ sinh thái không hoạt động bằng cách đặt câu hỏi, mà bằng cách không cần hỏi cũng biết câu trả lời là gì
- Khi được hỏi về các rào cản làm cản trở mối quan hệ đối tác, phía doanh nghiệp chủ yếu nói về việc thiếu năng lực, còn phía các tổ chức xã hội chủ yếu nói về việc không cùng hướng đi
- Sự hiệu quả của các dự án kết nối nguồn lực
- Để một hệ sinh thái hoạt động thực sự hiệu quả thì lượng năng lượng dành ra để nắm bắt tín hiệu của môi trường phải giảm tới mức gần như bằng 0
- Để tham gia vào một hệ sinh thái đòi hỏi người tham gia phải nắm được thuật ngữ
- ❓Có cách nào để đánh giá giá trị networking của một chương trình trước khi tham gia không
- ❓Mọi thành viên trong mạng lưới vẫn có thể sống khi bị cô lập, nhưng không chắc là vậy với hệ sinh thái
- ❓Hệ sinh thái là vùng đất
- ❓Động lực làm việc không liên quan đến sự khuếch tán trách nhiệm
-
Cộng đồng, hệ sinh thái, hệ phức hợp/Hệ sinh thái/Tổ chức xã hội:
- Chưa thấy có dự án nào nói về việc làm giảm tải gánh nặng công việc cho người bên cạnh mình
- Các dự án xã hội không tập trung vào việc đối thoại với người bên cạnh mình
- Ngay cả ở các tổ chức xã hội cũng có khoảng cách giàu nghèo lớn
- Người giúp đỡ sẽ khó có động lực giúp nếu không thấy ý tưởng mình rõ ràng
-
Cộng đồng, hệ sinh thái, hệ phức hợp/Truyền thông, xây dựng cộng đồng:
- Các cách xác định sản phẩm đã phù hợp thị trường hay chưa
- Cách phân tích các loại khách hàng
- Có những người không muốn được hỏi mình muốn gì mà chỉ muốn được quyết định giùm
- Cảm giác khó chịu khi bị quảng cáo quá đà
- Cộng đồng giải trí có độ tương tác cao. Cộng đồng hướng kiến thức ít nói hơn. Cộng đồng hướng xã hội nói nhiều hơn
- Media trên Internet khác hẳn media trên các phương tiện ở chỗ người tiêu dùng có thể tương tác với nó
- Người thụ hưởng sẽ nhớ đến mình nếu như mình có thể tạo được sự thỏa mãn cảm xúc, nhưng họ chỉ góp sức hoặc góp tiền cho mình khi họ cần đảm bảo một cái gì đấy
- Nhiều người muốn hỏi ý kiến của người sáng lập nhưng không hỏi trong cộng đồng chung mà chỉ muốn nhắn riêng
- Nhóm kín trên Facebook không nhất thiết là cộng đồng riêng
- Nội dung thiên về lý tính có nhiều tương tác chủ động. Nội dung thiên về cảm tính có nhiều tương tác thụ động
- Phân loại khách hàng tốt nhất là phân loại bằng niềm tin
- Ra quyết định tập thể
- Việc có được khách hàng mới có thể tốn kém hơn từ 5 đến 25 lần so với việc giữ chân một khách hàng hiện có
- Đàm phán là để tạo ra giá trị, chứ không phải chia đôi lợi ích
- ❓Làm sao để biết người thụ hưởng sẽ tiếp tục dựa dẫm hay sẽ có động lực thay đổi
- ❓Tìm sự bàn tán trước hay chuẩn bị cho sự bàn tán trước
- ❓Một người khen là bài rất hay thì nó có nghĩa gì
- ❓Tỉ lệ hài lòng trên share là bao nhiêu
-
Cộng đồng, hệ sinh thái, hệ phức hợp/Truyền thông, xây dựng cộng đồng/Cộng đồng:
-
Cộng đồng, hệ sinh thái, hệ phức hợp/Truyền thông, xây dựng cộng đồng/Gặp mặt:
-
Công nghệ thông tin:
- Bản thể luận (trong hệ thống thông tin) cố gắng tạo ra các ý nghĩa chung cho các biểu tượng
- Máy tính không đọc code như cách con người đọc. Máy tính đọc theo những quy tắc được tạo ra từ nhiều thập kỷ trước. Con người đoán ý nghĩa của tên biến và những mẫu hình khác
- Hai động lực lớn nhất để xây dựng ontology là để tránh concept drift và hỗ trợ interoperability của hệ
- Lập trình là việc hướng dẫn máy làm theo đúng ý mình, chứ không phải chỉ mỗi viết code
- Công nghệ mới đem lại thêm lựa chọn cho người làm chính sách
- Một ontology là một specification của một sự khái niệm hóa
- Việc lưu trữ dữ liệu tại máy cá nhân và ở định dạng đơn giản sẽ giúp người dùng quen thuộc hơn với việc lập trình
- Ontology trong xử lý ngôn ngữ tự nhiên vốn chỉ là một tập hợp các từ, vốn đã được gọi là glossary
- Việc đổi mới sáng tạo bắt đầu bằng việc mỗi người có thể tự mình điều khiển được máy tính, chứ không phải có thêm một sản phẩm no code hay AI nữa
- Tự động hóa là bản chất của ngành phần mềm. Cái gì phải làm thủ công thì nó là bug
- Người không làm lĩnh vực lập trình không được tạo điều kiện để trưởng thành về mặt quản trị dữ liệu
-
Công nghệ thông tin/Dữ liệu, AI:
- 4 cấp độ phân tích dữ liệu – mô tả hiện tượng, lý giải nguyên nhân, dự đoán kết quả, đề xuất hành động
- Dữ liệu của ta không chỉ là từ những thứ ta tạo ra, mà còn là sự liên kết với những dữ liệu người khác tạo ra
- Dữ liệu, AI
- Khi một AI thực sự hữu ích, ta không còn gọi nó là AI
- Tiên đoán từ dữ liệu chỉ đúng khi tương lai giống như quá khứ
- Tiềm năng để kiếm tiền từ AI đến từ mảng học có giám sát nhiều hơn ở mảng tạo sinh
- Nếu robot không cần phải giống người, thì AI không cần phải suy luận giống người
- Dữ liệu có thể là ngôn ngữ mà tất cả mọi người đều hiểu
- Cứt bò cứt ngựa trong thời đại dữ liệu
-
Công nghệ thông tin/Dữ liệu, AI/AI tạo sinh:
-
Công nghệ thông tin/Dữ liệu, AI/AI tạo sinh/Chủ thể tính:
- Chủ thể tính
- LLM không được xem là tác giả tri thức mới, vì nó không có khả năng chịu trách nhiệm đối với các tuyên bố tri thức
- Người sử dụng LLM không thể tự nhận mình là tác giả của tác phẩm do nó tạo ra được, vì nghệ thuật đòi hỏi ta phải đưa ra rất nhiều lựa chọn
- Nếu LLM thay thế được nhân viên, thì nó cũng thay thế được quản lý
- Tranh do LLM vẽ không thể hiện được mối quan hệ giữa tác giả và thứ được vẽ
- LLM không lao động để cải tạo thế giới
- Con người có xu hướng đánh đồng việc nói chuyện trôi chảy và việc suy nghĩ
- Đằng sau vẻ ngoài tự trị của LLM là những người làm công việc dán nhãn và kiểm duyệt, vô hình và bếp bênh
- Sự khác biệt giữa con người và mô hình ngôn ngữ lớn là con người có niềm tin và có thể kiểm chứng niềm tin từ môi trường bên ngoài
-
Công nghệ thông tin/Dữ liệu, AI/AI tạo sinh/Động cơ của công ty:
- Việc có được cách phân biệt một sản phẩm là do LLM tạo ra hay không một cách tin cậy được không chỉ giúp người dùng mà còn giúp chính các LLM đó
- Sự không phân biệt giữa AI học có giám sát và AI tạo sinh mà chỉ gộp chung vào AI làm nhiều người nhầm lẫn giữa điểm mạnh và điểm yếu của AI
- Việc LLM được thiết kế như chat khiến ta không để ý rằng nó chỉ là tự động điền chữ
- Việc làm cho LLM như có thêm cảm xúc khiến ta dễ bị lệ thuộc vào chúng hơn
- Nếu LLM được huấn luyện có chọn lọc, nó có thể bị bẻ theo ý của người tạo ra nó. Nếu LLM được huấn luyện không chọn lọc, nó có thể bị bẻ bởi các chiến dịch tuyên truyền
- Việc tích hợp LLM vào sản phẩm là để bán lời hứa cho nhà đầu tư, không phải để bán sản phẩm cho người dùng
- Việc xem LLM có nhân tính sẽ tạo thêm rào cản để lên án chúng
- Việc xem LLM là học được cho phép các công ty đòi quyền cung cấp dữ liệu
-
Công nghệ thông tin/Dữ liệu, AI/AI tạo sinh/Giới hạn:
- Các lỗi cơ xương và lực này thường thấy ở các cảnh hành động xuất bởi AI
- 100% các mô hình hiện tại đều chỉ có thể hoạt động được nhờ được pre train từ LAION5B
- Có bằng chứng cho thấy việc có thêm dữ liệu và phần cứng để tính toán cũng không làm tăng khả năng nhận diện
- Có những dấu hiệu phi ngôn ngữ mà LLM không thể cảm nhận hay phân tích
- LLM không học. Nó chỉ được tối ưu hoá trong một tập điều kiện
- LLM không tất định mà tạo sinh kết quả mỗi lần mỗi khác dù với cùng một câu nhập
- LLM không đọc được hàm ý
- LAION5B là một big data khai thác trái phép
- Lợi thế của các trang tài nguyên cộng đồng là ở chỗ nó được tạo bằng con người. Vì nếu nó được tạo bằng LLM thì người ta chẳng cần vào đó
- Mô hình không tồn tại sau khi học xong. Con người đã tồn tại trước khi học
- Nếu như LLM không thể thay thế tư duy của con người, thì người không dùng LLM luôn có lợi thế về tư duy với người sử dụng
- Mô hình ngôn ngữ lớn làm việc với ngôn ngữ, không phải kiến thức
- Nếu phải điều chỉnh lại kết quả của LLM thì tự làm luôn còn nhanh hơn
- Ta chỉ cần tự động hoá những thứ ta có thể làm mà không cần nghĩ
- LLM là định dạng ảnh mờ của web
- Ở thời điểm hiện tại không có bất cứ ai có thể đủ tiềm lực và khối lượng dữ liệu vừa có bản quyền vừa đủ khổng lồ để tự huấn luyện
-
Công nghệ thông tin/Dữ liệu, AI/AI tạo sinh/Giới hạn/Ảo giác:
- Bài kiểm tra Turing được thiết kế cho những thứ biết nghĩ, không phải cho thứ không biết nghĩ
- Cách để LLM không bị ảo giác là kêu nó viết truy vấn cho Wikidata
- Không có sự chính xác thì giống như lái xe trong sương mù
- Khả năng tự hoàn thiện nằm ở việc nghĩ được về việc nghĩ của mình
- LLM nhất thiết không được luôn lựa chọn từ tiếp theo có xác suất xuất hiện cao nhất, nếu không sẽ không tạo ra sự tự nhiên nữa
- Tất cả các tác phẩm viễn tưởng từ trước tới nay đều vẽ về một nhân vật AI không có ảo giác
- Ảo giác là việc có niềm tin sai về thế giới do có giác quan sai. LLM không có giác quan cũng không có niềm tin, nên gọi nó là ảo giác là không đúng
- Ảo giác ở người thể hiện sự trục trặc. Ảo giác ở LLM thể hiện nó hoạt động đúng chức năng
- Ở con người, sự chính xác vẫn có thể tồn tại trong lúc sáng tạo. Ở LLM, khi đã làm nó chính xác thì nó không thể ngẫu nhiên nữa
- Việc truy xuất thông tin cần có accuracy, sourcing, consistency, and fragility. LLM không có những thứ đó
- Con người xem mệnh đề phủ định nằm ở hướng đối lập. LLM xem là kế bên
-
Công nghệ thông tin/Dữ liệu, AI/AI tạo sinh/Giới hạn/Lập trình:
- LLM gần như không có khả năng tự sửa lỗi code
- Trước khi LLM có thể kiểm định và sửa lỗi code, ta vẫn cần phải học lập trình để kiểm định và sửa lỗi cho nó
- Để LLM có thể tham gia vào việc lập trình được, nó cần phải làm được cả việc kiểm định và sửa lỗi code, chứ không phải chỉ mỗi sinh code
- Khi nào các công ty LLM không còn tuyển lập trình viên nữa thì lúc đó nó mới đủ khả năng code
- Người mới học nên bắt đầu bằng việc hiểu code đúng hơn là sửa lỗi code sai với lời hướng dẫn chưa chắc đúng
-
Công nghệ thông tin/Dữ liệu, AI/AI tạo sinh/Giới hạn/LLM thương mại:
- Chatbot LLM nào cũng dẫn sai thông tin khoảng 60%. Riêng Grok là tới 96%
- Các LLM thương mại sẽ có chất lượng giảm dần do bị huấn luyện từ dữ liệu của LLM
- Shadow prompting means that genuine users cannot discover real biases in the model, or any constraints imposed on the model to mitigate those biases
- Với các lệnh vẽ hình, nó sẽ được điều chỉnh trước khi đi tới chương trình vẽ
-
Công nghệ thông tin/Dữ liệu, AI/AI tạo sinh/Tiềm năng:
- AGI không thể được tạo bởi LLM, vì các kiến thức mới là ngôn ngữ nhỏ
- AI giống như công nghệ tua bin. Gắn nó với xe hơi thì không sử dụng được. Nhưng nếu có thể có thêm những công nghệ mới thì có thể thành máy bay
- LLM làm rất tốt việc gợi ý từ khoá
- Thế mạnh của LLM là làm những công việc cần tốc độ mà không đòi hỏi sự chính xác, chất lượng
-
Công nghệ thông tin/Dữ liệu, AI/Khoa học dữ liệu:
-
Công nghệ thông tin/Dữ liệu, AI/Khoa học dữ liệu/Máy học, dữ liệu lớn:
- Chỉ có thể đảm bảo kết quả không thiên kiến khi kết quả đầu vào không thiên kiến
- Dữ liệu lớn không nhất thiết là dữ liệu tốt
- Không giám sát nghĩa là giả định rằng người huấn luyện không có giả định nào
- Máy học dự đoán xem mẫu hình có bao nhiêu khả năng lặp lại trong tương lai
- Rất nhiều thuật toán được sinh ra vì dữ liệu có nhiều chiều. Nếu chỉ có vài chiều thì dùng mắt tốt hơn
- Việc dùng máy học có thể làm ta nghĩ mô hình rất phức tạp mặc dù thực chất nó rất đơn giản
-
Công nghệ thông tin/Dữ liệu, AI/Khoa học dữ liệu/Phân tích xu hướng, xử lý ngôn ngữ tự nhiên:
-
Công nghệ thông tin/Dữ liệu, AI/Khoa học dữ liệu/Phân tích xu hướng, xử lý ngôn ngữ tự nhiên/Mô hình chủ đề:
-
Công nghệ thông tin/Dữ liệu, AI/Trung tâm dữ liệu:
- Dấu chân carbon của việc tính toán đã vượt qua công nghiệp hàng không
- Ngành công nghiệp siêu tính toán được xây dựng trên nền tảng thuộc địa từ việc khai thác tài nguyên ở các nước bán cầu nam
- Việc dùng ẩn dụ đám mây làm ta nghĩ là nó không có địa điểm và không cần tốn công xử lý
- 40% lượng điện của các trung tâm dữ liệu là để cho việc làm mát
-
Công nghệ thông tin/Kỹ thuật phần mềm:
- Code được dùng nhiều hơn được đọc, được đọc nhiều hơn được viết
- Khi thiết lập xong ta sẽ mong đợi là không phải đụng lại nó lần nữa
- Mọi thứ ban đầu không phức tạp. Chỉ đến khi có nhiều người dùng và tính năng thì nó mới bắt đầu phức tạp
- Mỗi một nhiệm vụ đều chứa những cái không biết, vì nếu đã biết rồi thì nó đã trở thành thư viện
- Chất lượng phần mềm, đặc biệt là native, không còn quan trọng nữa
- Người mới lập trình thường chỉ biết muốn biết làm sao để code chạy được. Người có kinh nghiệm còn quan tâm đến tính dễ bảo trì, mở rộng và bắt lỗi của code
- Người mới lập trình thường hỏi nên dùng cú pháp, thư viện, hay ngôn ngữ nào. Lập trình viên nhiều kinh nghiệm thường tập trung vào các khái niệm trừu tượng
- Ngôn ngữ lập trình bậc cao không giúp con người làm được nhiều hơn những gì ngôn ngữ lập trình bậc thấp làm được. Nó chỉ giúp con người làm ra ít lỗi hơn mà thôi
- Tài liệu sử dụng nếu được viết lúc phần mềm được viết gần xong sẽ chủ yếu ghi lại những thứ tác giả nghĩ mình cần nhớ, còn những thứ quyết định quan trọng thì tác giả đã quên do đã sống với nó quá lâu
- Làm thứ phức tạp hơn thì dễ, làm thứ tốt hơn thì khó
- ❓ Học code bằng việc debug product code sẽ nhanh hơn
- Tương lai của một ngôn ngữ phụ thuộc vào việc lý do ra đời của nó và lý do để sử dụng nền tảng dựa trên nó có còn cần nữa hay không
- Sự phức tạp của code sẽ tự cân bằng nó
-
Công nghệ thông tin/Kỹ thuật phần mềm/Đánh đổi:
- Các đánh đổi tạo ra nhiều tổ hợp giải pháp khác nhau cho cùng một nhu cầu
- Chấp nhận giải pháp mì ăn liền là đang mang nợ vào người
- Có sự đánh đổi giữa sự dễ dàng tuỳ biến dữ liệu của mình và sự dễ dàng hợp tác qua mạng
- Quick and dirty is now your entire architecture
- Việc lập trình ít trực giác hơn nhưng lại có nhiều đánh đổi hơn các ngành khác
- Có sự đánh đổi giữa sự tự do sử dụng dữ liệu và sự tiện lợi trong việc hợp tác
-
Công nghệ thông tin/Kỹ thuật phần mềm/Kiến trúc:
- Các cuốn sách về phương pháp lập trình được viết bởi những người làm phần mềm nội bộ
- Cầm một cuốn sách vật lý, bạn có thể chế ra được một lò hạt nhân phức tạp. Cầm một cuốn sách về kỹ thuật phần mềm, bạn không thể chế ra được những phần mềm phức tạp
- Cấu trúc kỹ thuật của sản phẩm phản ánh giới hạn xã hội của tổ chức tạo ra nó
- Lập trình viên không chỉ không được giao một đề bài rõ ràng, đầy đủ ngay từ đầu, mà các yêu cầu cũng thay đổi theo thời gian
- Nhiệm vụ của kiến trúc sư không phải là liệt kê hết các tình huống sẽ xảy ra, mà là thiết kế để dù các tình huống không ngờ tới xảy ra thì vẫn hoạt động ổn định
- Không phải vì một thứ có thể làm một điều mà ta nên dùng nó để làm điều đó
- Cách mạng khoa học sẽ xảy ra khi có nhiều dị thường không lý giải được bằng mô thức đang có. Vật lý thì mỗi thế kỷ một lần. Kỹ thuật phần mềm thì vài năm một lần
- Phần mềm nội bộ không cần dễ dùng và không phải kiểm thử trên nhiều môi trường khác nhau, cũng không sợ bị cạnh tranh
- Việc cấu trúc là không có ý nghĩa, nhưng việc giả bộ cấu trúc là có ý nghĩa
- Việc giả bộ là phần mềm được xây dựng bằng lý tính là có ích
- Những vấn đề ở cấp độ byte cũng gây ảnh hưởng tới các quyết định ở cấp độ chiến lược kiến trúc thượng tầng
- Hình ảnh một phần mềm được xây dựng thuần tuý từ lý thuyết là một ảo tưởng
-
Công nghệ thông tin/Kỹ thuật phần mềm/Kiến trúc/Triết học:
- Kiến trúc phần mềm không phải là khoa học, nhưng các kiến trúc sư lại nghĩ rằng mình đang làm khoa học
- Ngay cả người làm khoa học cũng đánh mất tư duy khoa học của mình một khi họ bắt đầu lập trình
- Những người đặt nền móng cho khoa học máy tính đều là những người theo phái logic thực chứng
- Sau hội nghị NATO 1968, ngành phần mềm đã chuyển đổi hệ hình từ tính toán sang hệ hình mô phỏng mọi thứ như các hệ kỹ thuật
- Thứ triết lý mặc định của kỹ thuật phần mềm là chủ nghĩa cấu trúc logic, có gốc gác từ triết học sự tĩnh
- Triết học sự tĩnh cho ta máy tính, nhưng triết học chuyển động mới là thứ kiến trúc sư cần
- Vì kiến trúc không kiểm sai được, nên nó gần với chiêm tinh hơn là vật lý
-
Công nghệ thông tin/Kỹ thuật phần mềm/Nhức đầu:
- Các biểu diễn kiến trúc không nói gì về thời gian, sự thay đổi theo thời gian, và sự bất định về sự thay đổi
- Khi lạc trong một thành phố, ta mở bản đồ lên coi và định vị được bức tranh tổng thể. Khi lạc trong code, ta mở UML lên và càng thấy rối hơn
- Khi đang dành tâm trí cho một công việc nhưng phải tạm hoãn giữa chừng để học một công cụ, ta sẽ không nhức đầu khi đó là công cụ vật lý, nhưng lại nhức đầu khi đó là công cụ số
- Học lập trình nhức đầu hơn học các ngành khác vì nó có quá nhiều đánh đổi, đồng thời cũng kém tính vận động trong không gian hơn, nên ta ít có khả năng nảy sinh trực giác hơn
- Lý do không dùng lại code của người khác
- Lập trình là lĩnh vực dễ nhức đầu vì cần phải học rất nhiều công cụ khác nhau trong lúc làm việc
- Mỗi lần nghiên cứu thư viện mới là lại phải gom tất cả quyết tâm và năng lượng để làm
- Ngành kỹ thuật phần mềm không có một ngôn ngữ thị giác chung
- Viết code dễ hơn đọc code
- Thật trớ trêu khi ngành kỹ thuật phần mềm viết nên những phần mềm để giúp các ngành khác tạo bản thiết kế hiệu quả hơn, nhưng lại không thể viết nên một phần mềm để tạo bản thiết kế cho chính ngành của mình
-
Công nghệ thông tin/Kỹ thuật phần mềm/Thời gian hoàn thành:
- Kể cả những người đã làm lố thời gian quá nhiều vẫn luôn lạc quan mình sẽ làm xong sớm
- Tính năng giống như thú nuôi, ta dễ quên những thứ cần có cho nó
- Viết phần mềm chỉ chiếm khoảng ⅓ thời gian, còn lại là dành cho bảo trì (thêm bớt chức năng, sửa lỗi, v.v.)
- 90% lượng code ban đầu tốn 90% thời gian lập trình. 10% lượng code còn lại tốn thêm 90% thời gian lập trình
-
Công nghệ thông tin/Nhân học/Internet:
- Hơn một nửa lưu lượng trên mạng đến từ bot chứ không phải con người
- Internet không được thiết kế để đảm bảo sự tin tưởng ngay từ đầu
- Internet nặng khoảng 10⁻¹⁴ g
- Luật lũy thừa trên internet
- Những nơi khó chỉ mục được là những nơi gặp được nhiều cuộc trò chuyện lành mạnh
- Thời kỳ sơ khai của internet là của giao thức, không phải nền tảng
- Trong đa số mạng xã hội, 90% người dùng chỉ theo dõi ngầm, 9% đóng góp chút ít, chỉ 1% tạo ra đa số hành động
- Web nhỏ, internet tí hon
- Văn hóa internet
-
Công nghệ thông tin/Nhân học/Lập trình:
- Lập trình là một cái gì đó thâm nhập vào đời sống của chúng ta, nhưng lại gần như vô hình
- Lập trình viên biết lập trình chủ yếu là nhờ biết google
- Người không học về lập trình thấy việc lập trình như làm phép thuật
- Người viết code thường làm một mình, không được hỗ trợ, không được trả tiền, chỉ làm vì sự đam mê. Họ cần xây dựng rất nhiều mối quan hệ tin tưởng được nhau
- Phần mềm tự do thường không thu hút người dùng do nó thường để đáp ứng nhu cầu đặc thù của tác giả và không có đội ngũ để làm giao diện
-
Công nghệ thông tin/Tự trị dữ liệu:
- Bạn có quyền chỉnh sửa dữ liệu của mình dưới bất kỳ hình thức nào
- Những người tự thấy mình ngu công nghệ đơn giản là vì họ không được trao quyền tự trị dữ liệu
- Nếu bạn không kiểm soát chương trình bạn dùng, người khác sẽ kiểm soát nó
- Quyền được đọc là quyền được cào
- The assumption of centralization is deeply ingrained in our user experiences today, and we are only beginning to discover the consequences of changing that assumption
- Các giao thức bị tái trung tâm hóa
- Việc phải trả tiền cho phần mềm để được đọc dữ liệu của mình không khác gì bị tống tiền
- Việc trung tâm hóa tạo ra lợi thế kinh tế nhờ quy mô lớn
- Việc trung tâm hóa việc lưu trữ dữ liệu trên máy chủ sẽ lấy đi autonomy và agency của người dùng cuối
- Việc dùng phần mềm tại máy mình sẽ cắt bỏ rất nhiều sự phức tạp đến từ việc dùng dịch vụ đám mây
-
Công nghệ thông tin/Tương tác người - máy:
- Các ngành khác đều làm việc với những vật thể cụ thể trong không gian. Chỉ có ngành lập trình là không có điều đó
- Dữ liệu là danh từ, giao diện là động từ
- Các cửa sổ phần mềm không giống như một bàn làm việc thật
- Lập trình thực ra là dùng ẩn dụ
- Mô hình tâm trí trong ngành lập trình thực ra chỉ là những ẩn dụ
- Ẩn dụ là cách ta hiểu code bằng cơ thể
- Ẩn dụ máy tính như là bàn làm việc đã giúp mọi người biết làm việc với máy tính
- Tính khả dụng liên quan đến con người và cách họ hiểu và sử dụng mọi thứ, chứ không phải liên quan đến công nghệ
- Kệ sách cho ta thứ ta không biết là không biết. Thanh tìm kiếm cho ta thứ ta biết là không biết
-
Công nghệ thông tin/Tương tác người - máy/Web:
- Các tập quán chung giúp người dùng sử dụng web dễ dàng hơn. Nhưng cái thôi thúc sáng tạo khỏi lối mòn đó là mãnh liệt
- Muốn đọc trang tiếp theo trên web phải đợi tải, trong khi với sách thì tức thì
- Người dùng bấm bao nhiêu lần cũng được, miễn là tự tin mình đang đi đúng hướng
- Một trang web giúp người dùng tới ngay được nơi họ cần đến làm họ cảm thấy mình có thêm tính tự chủ
- Người dùng dành nhiều thời gian ở website khác hơn website của bạn
- Việc web dùng ẩn dụ trang giấy giới hạn cách nghĩ của ta về web
- Trải nghiệm truy cập web giống như trải nghiệm được dịch chuyển tức thời đến một nơi xa lạ
- Link gây xao nhãng
-
Hệ hình nghiên cứu:
-
Hệ hình nghiên cứu/Phương pháp luận:
- Các loại phân tích
- Giả thiết là tiên đoán về mối quan hệ nhân quả giữa biến độc lập và biến phụ thuộc
- Nghiên cứu định tính có thể dừng khi đã cảm thấy đủ, còn nghiên cứu định lượng vẫn phải làm cho đủ số mẫu
- Nghiên cứu định tính không có khái niệm cỡ mẫu, nhưng có bão hòa thông tin
- Sự phân loại không quan tâm tới quần thể, phương pháp nghiên cứu
- Trong nghiên cứu định tính, việc diễn giải câu trả lời có sự tham gia của người trả lời. Trong nghiên cứu định lượng, việc đó nằm ở người làm nghiên cứu
- Trong nghiên cứu định tính, câu hỏi thường là mở và có khả năng kiểm chứng thông tin tại chỗ. Trong nghiên cứu định lượng, câu hỏi thường là đóng
- Trong nghiên cứu định tính, việc phân tích dữ liệu diễn ra đồng thời với thu thập dữ liệu. Trong nghiên cứu định lượng, việc phân tích phải diễn ra sau
-
Hệ hình nghiên cứu/Phương pháp luận/Nhân học:
- Có những thứ mà kể cả phỏng vấn cũng không dự đoán được
- Dân tộc học là nhân học văn hoá
- Dấn thân, quan sát và ghi chép là những chỉ báo cho thấy mức độ hoà nhập
- Dữ liệu nhỏ cũng có tính dự báo xu hướng giống như dữ liệu lớn
- Nhân học cho ta cái nhìn sơ lược về những khả thể khác của con người
- Nhân học chỉ chú trọng đến việc nói rằng bạn có thể khác biệt, rằng bạn còn có thể là người khác
- Nhân học là triết học trong xã hội
- Nhân học
- Nhật ký điền dã
- Nhà nghiên cứu điền dã không thể và không nên cố tỏ ra chỉ là con ruồi đậu trên bức tường
- Quan điểm của các cá nhân
- Quá trình nghiên cứu nói chung là một sự thương thảo diễn ra liên tục
- Tổng hợp thông tin
- Topic modelling trong NLP dùng cho máy và cần tập dữ liệu lớn. Còn thematic analysis trong nhân học thì dành cho người, nhấn mạnh vào yếu tố thị giác
- Đối thoại thay vì phỏng vấn
- ❓Khi nào thì một người sẽ cởi mở và thoải mái nói về những thứ họ không muốn nói
- ❓Nhân văn chỉ quan tâm đến việc lưu trữ, hiểu dữ liệu và tạo ra câu chuyện hay
-
Hệ hình nghiên cứu/Phương pháp luận/Nhân học/Điền dã:
- Hãy cài cắm các chi tiết
- Các bước thực hiện điền dã
- Hãy tham gia như một phần của cộng đồng chứ không phải thúc đẩy cộng đồng
- Chỉ cần ghi những thứ để mình nhớ, và để người khác nhặt được cũng không hiểu gì
- Muốn cấu trúc hoá bối cảnh thì cần phải có tiêu điểm
- Quá tập trung vào tình tiết mà bỏ qua bối cảnh thì sẽ thành góc nhìn thượng đế
- Quá trình điền dã từ đầu đến cuối luôn bị chi phối bởi việc viết lách
- Trình thuật cuộc đời, câu chuyện cuộc đời, tiểu sử là giống nhau
- ❓Khi nào thì họ sẽ nói về những thứ họ thấy xấu hổ hoặc tội lỗi
- ❓Môi trường đô thị thì cũng không có điều kiện để làm chung với họ được
- ❓Có đưa ghi chú của mình cho người mình nghiên cứu xem
- ❓Nghe những gì họ nói thì chỉ là một chiều
- ❓Người ta ngại không muốn từ chối thì mình có tiến tới ko
- ❓Nếu họ bận mình chỉ có thể hẹn họ ra cà phê thì thời gian họ có thể dành cho mình cũng chỉ có thể là 1, 2 tiếng. Như vậy thì cũng đâu khác gì phỏng vấn
- ❓Một vài ví dụ hoặc nghiên cứu về sự ra quyết định can thiệp trong khi nghiên cứu
- ❓Nếu trước khi xin làm nghiên cứu mình họ đã có sự không thoải mái với mình rồi thì sao
- ❓Quá trình xây dựng sự tin tưởng như thế nào, khi mình không có cơ hội để làm giống như họ
- ❓Trường hợp va chạm thói quen, văn hoá, lối sống mà mình không biết nhưng cũng đủ gây ra sự khó chịu ở họ thì sao
- ❓Để một quan sát có chất lượng thì cần bao nhiêu thời gian ở cùng cộng đồng
- ❓Sau khi nghiên cứu xong thì giúp đỡ, tác động cũng được mà
- Nhà nghiên cứu luôn trong tâm thế có thể sẽ rời đi
- Nếu không tuân thủ việc không tác động dù chỉ là lời khuyên, thì cái kết quả nghiên cứu cũng có thể là cái mà mình tạo ra
-
Hệ hình nghiên cứu/Phương pháp luận/Nhân học/Điền dã/Thực hành quan sát:
-
Hệ hình nghiên cứu/Phương pháp luận/Nhân học/Diễn giải và mô tả:
- Chú giải ban đầu là để hiểu lời của thượng đế, nhưng sau đó lại biến thành người có góc nhìn của thượng đế
- Trải nghiệm, diễn giải, đối thoại, đa thanh là những mô thức về tính uy quyền
- Khi nhà nghiên cứu xem mình là người đọc và chú giải văn bản, họ bóc tách các lớp để tạo ra một văn bản mới. Khi họ xem mình là đưa thư, họ kết nối những văn bản để tạo ra văn bản mới
- ❓Việc quan sát tham dự biến việc diễn giải trở thành mô tả
- ❓Wikipedia là góc nhìn thượng đế, nhưng nó lại là cơ chế để tất cả mọi người là đồng tác giả
- ❓Sự khác biệt giữa việc đưa thư và chăm trích dẫn là gì
- Uy quyền diễn giải loại bỏ các quá trình đối thoại. Uy quyền đối thoại hoàn toàn che dấu đi tiến trình văn bản hóa
-
Hệ hình nghiên cứu/Phương pháp luận/Nhân học/Diễn giải và mô tả/Diễn giải:
- Diễn giải văn bản không phải là sự đối thoại do nó không phụ thuộc vào việc có mặt của người nói
- Khi người quan sát có sự kết nối với nhân vật nào, thì những nhân vật khác sẽ trở thành nền cho nhân vật đó
- Hermes vốn chỉ là người đưa thư chứ không giải thích, diễn giải gì cả
- Khi người quan sát có sự kết nối với nhân vật nào, thì những nhân vật khác sẽ
- Khi nhà nghiên cứu chú giải văn bản, họ kiến tạo ra đồng tác giả cho mình
- Mỗi xã hội chứa đựng những cách diễn giải của riêng nó. Công việc của nhà nhân học là học cách bước vào những cách diễn giải đó
- Người làm nhân học kết nối với lý thuyết nhiều hơn, còn nhà báo tường thuật sự kiện nhiều hơn
- Người đọc là người chú giải
- Những từ sử dụng trong viết lách điền dã nhân học không thể được coi là một độc thoại
- Không giống như diễn ngôn, văn bản có thể dịch chuyển được
- Thông diễn học bắt nguồn từ việc chú giải kinh thánh
- Tính một chiều của dân học diễn giải nằm ở chỗ chỉ diễn giải văn hóa bản địa chứ không diễn giải văn hóa của nhà nghiên cứu
- Sự kiểm soát của người bản xứ đối với những kiến thức có được trong quá trình thực địa là khá đáng kể, và thậm chí là có tính quyết định
- Việc đọc là sự gặp gỡ, giao thoa của thế giới của văn bản và thế giới của người đọc
- Văn hoá là một tập hợp các văn bản
- Để có thể diễn giải thì việc tiên quyết là phải văn bản hoá, nghĩa là tách những hành vi, câu nói, niềm tin, lễ nghi, truyền thống, v.v. ra khỏi diễn ngôn
- Sự kiến tạo cuộc đá gà ở Bali thành một văn bản
-
Hệ hình nghiên cứu/Phương pháp luận/Nhân học/Diễn giải và mô tả/Đối thoại, đa thanh:
-
Hệ hình nghiên cứu/Phương pháp luận/Nhân học/Diễn giải và mô tả/Ý nghĩa và biểu tượng:
- Biểu tượng là hệ quả của sự nội tâm hoá
- Không trực tiếp nói đồ vật được dùng để làm gì, mà mô tả sao cho người đọc tự liên hệ được tới chức năng của nó
- Kể về bản thân cho người khác vừa là sự kết nối những với tổn thương của mình, vừa là một lần tự sát
- Phía sau các tình tiết hiển hiện ở bên ngoài tiềm ẩn các ý nghĩa phía sau
- Tình tiết là các sự kiện cá nhân
- Việc phân tích văn hoá không phải là một khoa học thực nghiệm tìm kiếm quy luật, mà là một khoa học lý giải ý nghĩa
- Văn hoá có liên quan chặt chẽ đến biểu tượng
- Mỗi một đồ vật, hành vi đều là ẩn dụ của một biểu tượng văn hoá
- Văn bản là nơi ta đọc ra các ý nghĩa và diễn giải nó
-
Hệ hình nghiên cứu/Phương pháp luận/Nhân học/Quan sát tham dự:
- Quan sát tham dự không phải là khai thác thông tin
- Quan sát tham dự là sự kết hợp giữa trải nghiệm cá nhân với cường độ cao và phân tích khoa học
- Quan sát tham dự cho nhà nghiên cứu uy quyền về trải nghiệm
- Quan sát tham dự đời sống xã hội chính là một quá trình thay đổi toàn bộ con người mình để trở thành thành viên của cộng đồng
- ❓Nhà nghiên cứu khi điền dã thì cũng đã có một mục tiêu nghiên cứu nào đó rồi. Nếu không phải khai thác thông tin thì sẽ không hoàn thành công việc được
- ❓Quan sát tham dự có yêu cầu họ tập trung nói về một chủ đề nào đó không
- Sự sáng tạo mang tính trải nghiệm là một sản phẩm mang tính chủ quan, chứ không mang tính liên chủ thể hay dựa trên sự đối thoại
- Hoạt động trải nghiệm là việc tận dụng những gợi ý manh mối, dấu vết, cử chỉ, và cảm quan trước khi phát triển những diễn giải ổn định
-
Hệ hình nghiên cứu/Phương pháp luận/Nhân học/Viết câu chuyện cuộc đời:
- Cho độc giả xem, không kể lại
- Cái quan trọng của câu chuyện là tinh thần, thông điệp và sự kiện. Còn ngôn từ, cách biểu đạt chỉ là thứ cấp
- Kết nối dòng chảy cuộc đời của nhân vật với quãng đường xã hội
- Một người trung niên kể về thời họ 6 tuổi khác với đứa bé 6 tuổi đó kể về mình
- Những đau buồn của nhân vật tạo ra tình tiết
- Câu chuyện cuộc đời có khả năng bị cảm xúc của nhân vật chi phối câu chuyện
- Niên biểu là để lên kế hoạch và nhớ các từ khoá quan trọng, còn khi viết chuyện thì viết theo từ khoá
- Việc chọn chủ đề phụ thuộc vào niên biểu và thông điệp
- Điểm nhìn ngôi thứ nhất không hoá thân được vào các không gian, nhưng suy tư được vào chính thế giới nội tâm của mình
- ❓Ngôi thứ ba thực ra vẫn chỉ là ngôi thứ nhất mà thôi
- Ta có thể hư cấu nội tâm nhân vật dựa trên dữ liệu
- ❓Nếu đã xuất bản rồi mà nhân vật muốn rút lại thì làm sao
- Việc hỏi quan điểm có thể gặp việc tránh né, hoặc câu trả lời bị theo tư duy của họ, hoặc không tạo đủ chất liệu cho việc kể chuyện
- ❓Mình có nhất thiết phải không thể hiện quan điểm của mình về nhân vật không
-
Hệ hình nghiên cứu/Phương pháp luận/Thống kê xã hội:
- Các mô hình được mô tả bởi các tham số
- Không dễ để lấy mẫu ngẫu nhiên, dù đó là điều kiện tiên quyết cho nghiên cứu định lượng
- Dữ liệu đến từ sự định lượng của con người chỉ sử dụng thống kê. Dữ liệu từ sự đo lường các đại lượng vật lý dùng cả các loại toán khác
- Số lượng mẫu không bằng cách lấy mẫu
- Việc chọn ai hỏi bị ảnh hưởng bởi chủ quan của điều tra viên
-
Kinh tế. Tâm lý học quản lý và lao động:
- Chúng ta có cảm xúc cổ đại, thiết chế thời trung đại và công nghệ của chúa
- Tò mò thử, hứng thú, mong muốn, ý định, động lực nội sinh, đam mê, ưu tiên, sẵn sàng, cam kết, gắn bó, trách nhiệm
- Việc khai thác điểm yếu của con người đem lại lợi nhuận
- Công nghệ vừa làm tăng sự phức tạp của vấn đề, vừa làm giảm khả năng hiểu được vấn đề của chúng ta
-
Kinh tế. Tâm lý học quản lý và lao động/Kinh tế/Các loại hình kinh tế mới:
- Cho mượn theo nhóm đảm bảo hơn
- Con số cho tiền cho thiện nguyện dựa trên cộng đồng không tăng lên dù có rất nhiều nền tảng
- Mọi người vẫn nghĩ công nghệ mới là AI, nhưng nó chỉ là một công nghệ trong rất nhiều các loại công nghệ mới khác
- Năm 1990 UNDP gắn phát triển vào phát triển con người
- Kể cả khi AI có thể làm mất việc, thì những ngành khác cũng sẽ tạo ra nhiều loại việc khác
- Nếu bạn thấy được ý nghĩa trong công việc bạn làm thì bạn sẽ không lo lắng về người dùng chùa
- Nền kinh tế hậu khan hiếm
- Nền kinh tế phi chính thức bao gồm các hoạt động kinh tế không có đăng ký về mặt pháp lý, không có số liệu thống kê và không được kiểm soát bởi nhà nước
- Nền kinh tế không dùng tiền
- Cho vay ngang hàng
- The non-monetary economy, typically embedded in a monetary economy, undertakes tasks that benefit society (whether through producing services, products, or making investments) that the monetary economy does not value
- Tỉ lệ mua khi có ủng hộ giảm tăng vì người mua không muốn mình bị đánh giá là đứa tồi. Nhưng những người trả tiền trả nhiều tiền hơn hẳn
- Xu thế kinh tế mới
- Đi cùng với khái niệm bền vững là khan hiếm
-
Kinh tế. Tâm lý học quản lý và lao động/Kinh tế/Các loại hình kinh tế mới/Nền kinh tế chăm sóc:
- Các công việc nấu nướng, dọn dẹp, chăm sóc trẻ em, người già và người bệnh tại gia đình thường được hiểu là công việc chăm sóc không lương
- Công việc chăm sóc không lương thường vô hình trong các chính sách và ngân sách bởi vì nó không nằm trong định nghĩa và đo lường theo cách truyền thống của nền kinh tế
- Công việc chăm sóc không lương được gán cho là không có giá trị về kinh tế bất chấp một thực tế về những đóng góp to lớn của công việc này cho nền kinh tế và xã hội
- Chưa có một lý thuyết chắc chắn nào về nền kinh tế chăm sóc
- Nhiều thảo luận về nền kinh tế chăm sóc chỉ nói đến lợi nhuận tiềm năng của nó, chứ không để ý vào các bất bình đẳng xã hội từ việc thiếu để ý và quan tâm đến các công việc chăm sóc
- Sự khác biệt giữa nền kinh tế chăm sóc và các ngành dịch vụ là nó tập trung vào người yếu thế, và hệ thống hoá các khái niệm
- Tính trung bình, phụ nữ làm công việc chăm sóc không được trả lương nhiều hơn ít nhất hai lần rưỡi so với nam giới
- Với sự phát triển của AI, các ngành về chăm sóc sẽ trở thành lợi thế
- Nền kinh tế chăm sóc
-
Kinh tế. Tâm lý học quản lý và lao động/Kinh tế/Các loại hình kinh tế mới/Nền kinh tế số:
- Ngân hàng trung ương quản lý được digital currency, nhưng không phải crypto
- Sự khác nhau giữa công nghệ thông tin và chuyển đổi số
- Tài chính phi tập trung
- ❓Quyền riêng tư có phải là bất lợi với các doanh nghiệp nhỏ vì họ không có dữ liệu khách hàng, nhưng lại là lợi thế của doanh nghiệp lớn để họ độc quyền khai thác khách hàng đó?
- Kinh tế số là kinh tế dữ liệu (data-driven economy)
-
Kinh tế. Tâm lý học quản lý và lao động/Kinh tế/Các loại hình kinh tế mới/Nền kinh tế xanh:
- Chi phí chuyển đổi sang năng lượng xanh không đơn giản
- Dần dần khái niệm kinh tế xanh được đánh đồng với tăng trưởng xanh
- Các thảo luận về nền kinh tế xanh ít đề cập đến việc giảm tải áp lực cho mọi người
- Nền kinh tế xanh
- Để bắt kịp những công nghệ mới, thường 2 năm rà soát lại một lần
- Rác thải nhựa từ một toà nhà vào buổi trưa là khổng lồ
-
Kinh tế. Tâm lý học quản lý và lao động/Kinh tế/Giá trị, giá cả, thị trường:
- Chỉ khi có sự trao đổi thì giá cả mới xuất hiện
- Con người không giả định miễn phí là kém chất lượng với sản phẩm số
- Các từ ngữ do chủ nghĩa tân tự do sử dụng thường có tính che giấu nhiều hơn là được làm sáng tỏ
- Giá cao làm tăng kỳ vọng, nhưng không làm thay đổi cảm nhận về chất lượng
- Một công ty không có sản phẩm tốt nhưng tiếp thị tốt sẽ khiến người dùng không biết về sản phẩm tốt hơn
- Những gì “thị trường muốn” có xu hướng đồng nghĩa với những gì các doanh nghiệp và ông chủ của nó muốn
- Những tài nguyên vô hạn sẽ làm những tài nguyên không vô hạn đi kèm với nó trở nên khan hiếm hơn
- Chúng ta cần có tiền, nhưng không cần giàu có
- Nền kinh tế thị trường khác với xã hội thị trường
- Thị trường không chỉ phân bố hàng hoá mà còn bộc lộ, khuyến khích con người có những thái độ nhất định với các loại hàng hoá
- Thị trường không định giá. Ta mới là người định giá
- Sự hấp dẫn của tư duy thị trường ở chỗ nó không phán xét
- Đôi khi, giá trị thị trường lấn át những giá trị phi thị trường đáng quan tâm
- Độc quyền, ngoại tác, hàng hoá công, thông tin bất cân xứng, mất cân bằng vĩ mô là các thất bại của thị trường
- ❓Truyền miệng là cách duy nhất để sản phẩm thực sự tốt hơn chiến thắng trên thị trường
- ❓Miễn phí, trả tuỳ tâm, tự định giá sức lao động
- Những sản phẩm quá mới mẻ khó theo hình thức trả giá tuỳ tâm được, vì người mua không có cách nào để đoán giá
-
Kinh tế. Tâm lý học quản lý và lao động/Kinh tế/Kinh tế học tâm lý:
- Cảm giác mất mát là cảm giác tiêu cực
- Nhu cầu rõ ràng về tiền làm nhức đầu tất cả các bên
- Ta muốn cái được phải chắc chắn, trong khi cái mất ta có thể mạo hiểm
- Cảm giác đáp ứng nhu cầu người khác là cảm giác tích cực
- Tiền là một động lực ngoại sinh cực kỳ tốt
- Tiền làm người sở hữu tưởng rằng mình độc lập
- Tiền làm thay đổi mối quan hệ từ việc đáp ứng nhu cầu lẫn nhau sang trao đổi hàng hoá
- Kinh tế học hành vi chủ yếu ứng dụng thiên kiến và suy luận tắt của con người vào kinh tế học, chứ chưa phải là toàn bộ tâm lý con người
- Tiền tạo ra những cam kết phải đáp ứng mà nhiều khi mình không còn nhu cầu nữa
- Tiền có nhiệm vụ làm trung gian cho việc trao đổi nhu cầu
- Tiền đơn giản hoá quá trình đáp ứng nhu cầu
- Tiền được lưu ở dạng vật chất, nhưng nhu cầu là một trạng thái tinh thần
- Việc bán hàng và việc đáp ứng nhu cầu người dùng không nhất thiết phải đi cùng với nhau
- Từ khi có tiền, chúng ta mới có sự cạnh tranh để đáp ứng nhu cầu người khác
- Việc chia cổ phần làm ta chỉ còn chú ý vào động lực ngoại sinh
- ❓Việc được tự định giá sức lao động của mình khiến người lao động cảm thấy công sức mình được công nhận xứng đáng
- Việc mất tiền làm tâm lý con người bị đau dù có thể nó vô lý
- Tiền tạo cảm giác phải cạnh tranh để có tài nguyên hơn là hợp tác để có nhiều tài nguyên hơn
-
Kinh tế. Tâm lý học quản lý và lao động/Kinh tế/Kinh tế vĩ mô, toàn cầu hoá:
-
Kinh tế. Tâm lý học quản lý và lao động/Kinh tế/Lịch sử, triết học, chính trị, xã hội học trong kinh tế:
- Chiến tranh tiền tệ là một khái niệm không khoa học
- Các giáo trình kinh tế hiện nay tập trung vào các mô hình toán học chứ không phải là hành vi con người
- Công việc thay đổi là vì những người xung quanh thay đổi, chứ không nhất thiết là vì có công nghệ mới
- Hệ thống tài phiệt nắm quyền qua các ngân hàng trung ương
- Ngân hàng trung ương châu Âu nằm ở Đức
- Người Hy Lạp cổ duy trì chế độ nô lệ
- Những người không cùng cộng đồng kinh tế thì đổi chác. Những người sống trong cùng một cộng đồng thì nhận nợ
- Nợ đã hiện hữu từ trước khi con người phát minh ra tiền bạc
- Lương nghĩa gốc là thức ăn
- Người Hy Lạp cổ không tự hào về việc mình có việc làm
- Trong một hợp đồng, không phải cái gì cũng mang tính chất hợp đồng
- Trong tiếng Anh, nghĩa gốc của amateur (nghiệp dư) là những người làm vì đam mê, chứ không phải là trình độ còn non
- Thời WW2 Thuỵ Sỹ trung lập được vì đó là nơi tích luỹ vàng của giới tài phiệt
- Thời nông nghiệp, người giàu là người có nhiều ruộng đất. Thời công nghiệp, người giàu là người có nhiều nhà máy
- Để xác định xem cái gì nên và không nên được mua bằng tiền, cần phải xác định được những giá trị nào chi phối các lĩnh vực khác nhau trong đời sống cá nhân và xã hội
-
Kinh tế. Tâm lý học quản lý và lao động/Tâm lý học quản lý và lao động:
- Chúng ta đi tìm hạnh phúc trên những máy chạy bộ
- Cường độ của nhu cầu quyết định thứ tự ưu tiên của các giá trị
- Một học giả chỉ là cách mà một cái thư viện tạo ra một cái thư viện khác
- Tiền là cách để biến việc đáp ứng nhu cầu của người khác thành vấn đề cần giải quyết
- Thang đo năng lực dựa trên việc có thể đưa ra phân tích và trực giác đúng hay không
- Về mặt nhận thức, con người tương lai của chính mình không liên quan gì đến mình
-
Kinh tế. Tâm lý học quản lý và lao động/Tâm lý học quản lý và lao động/Game hoá:
- Bản đồ là yếu tố tuyệt vời nhất của game mà các dự án có sử dụng game hoá chưa sử dụng triệt để
- Chuỗi kỹ năng mô tả những khoảnh khắc ý nghĩa xảy ra trong quá trình chơi trò chơi, chứ không chỉ là những cơ chế đơn thuần
- Chơi là sự thử nghiệm các kỹ năng mới học trong những môi trường mới
- Game hoá
- Games effectively develop players’ skills
- Game hoá đang được dùng để tạo ra những trò chơi mà người chơi không được chọn để chơi
- Những thứ lặp đi lặp lại có thể game hoá được
- Untitled
- Đa số các dự án game hoá chỉ tập trung vào cạnh tranh thi đua, chứ không tập trung vào bản đồ
- ❓Những game có yếu tố bản đồ mới là những game tạo thành một cộng đồng nhiều ý tưởng
- Làm game không được tính là làm sản phẩm. Nó nên được xem là làm nghệ thuật, nhưng vì nó có data, cũng phải dev, nên nó lai lai
-
Kinh tế. Tâm lý học quản lý và lao động/Tâm lý học quản lý và lao động/Giúp đỡ nhau:
- Người khác sẽ tham gia giúp đỡ khi họ thấy việc mình làm gần thoả mãn nhu cầu của họ
- Sau khi nhu cầu được giải quyết xong ta sẽ nghĩ ngay tới việc giải quyết vấn đề tiếp theo
- Phản hồi và sự giúp đỡ trả lại là những thứ xa xỉ với người được giúp
- Sự tập trung đòi hỏi người khác phải lo cho những nhu cầu khác của mình
- Chúng ta ai cũng đói, nhưng khi đói thì ta không quan tâm tới sự đói của người khác
- Sự giúp đỡ người khác làm con người cảm thấy cuộc sống có ý nghĩa
- Việc giúp đỡ người đã giúp mình không đủ khẩn cấp hoặc nhiều cảm hứng bằng việc giải quyết vấn đề tiếp theo, hoặc đủ cảm hứng bằng việc cải tiến giải pháp hiện có
- Trong quá trình tập trung, sự chăm lo của người khác với những nhu cầu khác của mình sẽ trở nên vô hình và cần trở nên vô hình
- Sự hợp tác xã hội của ta hướng đến việc chia việc để cùng tạo ra sản phẩm chung, chứ không phải ở việc giúp đỡ qua lại
-
Kinh tế. Tâm lý học quản lý và lao động/Tâm lý học quản lý và lao động/Kỹ năng, động lực:
- Con người chuyển từ kỹ năng này sang kỹ năng khác ngay cả khi họ chỉ có một khái niệm mơ hồ về đích đến cuối cùng
- Con người sẽ theo đuổi kỹ năng mới với giá trị tiềm năng trong phạm vi dự đoán
- Con người phản ứng mãnh liệt nhất khi bị đụng đến điểm đau
- Một tổ chức đáng làm tạo ra được động lực nội sinh ở nhân viên
- Những nhiệm vụ thách thức làm nhiều người thấy thú vị hơn
- Những thứ khẩn cấp thường không phải là những thứ thú vị
- Sự hứng thú tạo ra sự tập trung
- Thứ muốn làm bây giờ phụ thuộc vào cái mình đang nghĩ đến
- Dopamine is released in anticipation of a reward
- Tình trạng thiếu sự phản hồi xảy ra thường xuyên, đến nỗi nhiều người không còn kỳ vọng vào việc mình sẽ nhận được sự phản hồi nữa
- Việc mải mê làm việc đến quên cả đói cho thấy phần thưởng từ việc làm việc là đủ lớn hơn việc được ăn
- Việc nghĩ ra ý tưởng tốt hơn làm ta muốn theo đuổi nó hơn là làm tiếp thứ hiện tại
- Động lực ngoại sinh làm tăng sự tập trung vào đích đến và giảm sự quan sát tới những thứ khác
- ❓Tại sao một công việc có ý nghĩa là không đủ để một người quyết định sẽ làm
- Việc chảy
- Để tạo ra sự thú vị cần sự bất ngờ. Để tạo nên chuyên gia cần môi trường ổn định
-
Kinh tế. Tâm lý học quản lý và lao động/Tâm lý học quản lý và lao động/Môi trường làm việc:
- Có những lúc đầu tư vào một người để họ tạo ra sản phẩm của họ sẽ đem lại nhiều lợi nhuận hơn trả lương cho họ để họ làm cho sản phẩm của mình
- Môi trường chuyên nghiệp tạo cảm giác tội lỗi khi thư giãn
- Sự chuyên nghiệp là việc ta tách bạch cuộc sống và công việc
- Việc làm việc tại nhà sẽ cho nhiều khoảnh khắc loé sáng ý tưởng hơn
- Việc thay đổi mối quan hệ từ người làm chủ – nhân viên sang nhà đầu tư – người sáng lập phù hợp hơn với những công việc đòi hỏi sự sáng tạo
- ❓Tại sao tiền lại liên quan đến hệ thống cấp bậc
-
Kinh tế. Tâm lý học quản lý và lao động/Tâm lý học quản lý và lao động/Tối ưu hoá:
- Khi làm xong một việc hiệu quả hơn, ít khi nào ta dùng thời gian rảnh để chơi, mà sẽ kiếm thêm việc để làm
- Những công việc chưa hoàn thành sẽ ám ảnh ta (hiệu ứng Zeigarnik)
- Những tác giả của những app quản lý công việc cũng cảm thấy app của họ không thể giúp quản lý công việc một cách hiệu quả được
- Nỗi ám ảnh với sự hiệu quả có thể đến từ nỗi sợ chết
- Sống cho hiện tại và đối diện với sự khó chịu khi làm điều quan trọng với mình không mâu thuẫn nhau
- Những app quản lý công việc mang trong mình những giá trị văn hoá
- Sự chuyên môn hoá khiến ta không được tự đáp ứng nhu cầu của mình mà phải đáp ứng nhu cầu người khác để họ đáp ứng nhu cầu của mình
-
Nghĩ về việc nghĩ:
- Cứ 35 ngày thì ta lại có một trải nghiệm triệu lần mới có một
- Cảm giác mơ hồ sẽ mạnh hơn nếu đó không phải là thứ mình biết là mình không biết, mà là thứ mình biết là mình không biết là mình không biết
- Ta cần lý do để người khác muốn đáp ứng nhu cầu của ta
- Triết học là việc đặt câu hỏi về những giả định của mình
- Tìm hiểu lý do làm nhức đầu
- Đi bộ giúp nghĩ tốt hơn
- Địa lý → địa chất → địa hình → địa linh → địa bàn
- Quy trình xử lý dữ liệu cho PKM và phát triển sản phẩm là giống nhau, nhưng từ dữ liệu ra insight rồi làm gì với insight đó là khác nhau
- Nghĩ về việc nghĩ
- ❓Bản đồ là cách để ta biết mình cần gì khi còn chưa cảm nhận được thứ mình cần là gì
- ❓Essence có phải là sự trừu tượng hoá không?
-
Nghĩ về việc nghĩ/Bản thể luận:
- Bản đồ không phải là vùng đất
- Chúng ta thường nhìn hiện tại và tương lai bằng những khái niệm học trong quá khứ
- A problem well stated is half solved
- Giả định đến từ trực giác
- Mô hình tâm trí là những niềm tin của người dùng vào hệ thống
- Mọi mô hình đều sai, nhưng một số thì hữu ích
- Những câu chuyện kể ra có quyền lực tạo thành thực tại
- Dữ liệu không phải thông tin, thông tin không phải kiến thức, kiến thức không phải hiểu biết, hiểu biết không phải thông thái
- Nhiều khi để trả lời được một câu hỏi ta phải tìm hiểu cả một lĩnh vực
- Nơi dễ kiếm những ý tưởng mới lạ với nhiều người là xung quanh những niềm tin sai phổ biến
- Rhizome
- Những niềm tin sai tạo ra một vùng chết các ý tưởng chưa được khám phá xung quanh nó
- Thứ làm tốt công việc của mình là thứ ta không nhận ra sự tồn tại của nó
- Ta không xây dựng kiến thức về một thứ bằng cách phân tích các thuộc tính của nó và làm thí nghiệm lên nó. Ta biết về nó bằng cách làm lại nó nhiều lần
- Triết học sự tĩnh và triết học chuyển động
- Về lý thuyết thì lý thuyết và thực tế giống nhau. Trong thực tế thì lý thuyết và thực tế khác nhau
-
Nghĩ về việc nghĩ/Bản thể luận/Phân loại:
- Các hệ thống phân loại quyết định trước cái gì được nhớ và cái gì được quên
- Có 4 loại phân loại
- Một hệ thống phân loại càng được nhiều người sử dụng thì càng khó thay đổi
- Nếu không có phân loại, sẽ không có hành động
- Phân loại, dán nhãn, khai báo metadata là những cái tên khác nhau cho cùng một thứ
- All classification systems are the result of political and social processes, which involve decisions about what’s worth remembering and what we can afford to forget
- Việc phân loại không quan trọng bằng việc chuẩn bị cho sự thay đổi cách phân loại
-
Nghĩ về việc nghĩ/Bản thể luận/Vật thể:
- Hoán dụ giúp ta vẽ được những thứ trừu tượng
- Mỗi thuộc tính của vật thể tạo nên chiều của nó
- Siêu vật là những vật mà ta khi ta chạm vào những vị trí khác nhau của nó thì không thấy sự liên quan giữa chúng, làm ta nghĩ chúng là những vật khác nhau
- Sử dụng nhiều ẩn dụ khác nhau sẽ cho ta thấy vật thể tốt hơn
- Ta mô phỏng thế giới qua những vật thể
- Ta thường chỉ nghĩ về vật thể khi ta gặp trục trặc với nó
- Muốn nhìn thấy siêu vật thì cần có nhận thức phân tán và sự liên kết giữa các nhận thức đó
- Vùng đất thường là siêu vật
- Vì vật thể thường có số thuộc tính lớn hơn 3, nên ta không dễ biểu diễn dữ liệu thành bản đồ
-
Nghĩ về việc nghĩ/Gánh nặng nhận thức. Thiết kế:
- Bản chất của việc hợp tác xã hội không nằm ở mỗi chuyện làm nhẹ gánh nặng của nhau, mà còn là chuyện sắp xếp làm sao để có thể đẩy gánh nặng sang cho nhau mà không ai cảm thấy áy náy
- Chi phí chuyển đổi giữa lập trình và nghiên cứu là lớn
- Các quá trình nhận thức của con người có nhiều giới hạn, nên những thứ tiện và ít phải nghĩ sẽ luôn được ưu tiên
- Công việc làm slide ít khi nào được gộp vào trong công việc sản xuất nội dung
- Interaction is a cost center in interface design
- Chúng ta không chọn phương án tối ưu khi chọn sai cũng chẳng hại gì
- Khi được trò chuyện với người cùng quan tâm thì việc nghĩ không nhức đầu. Khi không có thì việc nghĩ nhức đầu
- Logo nên được thiết kế một cách độc lập với môi trường, vì nó sẽ được sử dụng ở bất kỳ môi trường nào
- Khi khoảnh khắc loé sáng ý tưởng đến vào lúc ta đang tập trung làm việc khác, nó làm phân tán sự tập trung của ta khỏi thứ mà ta định làm
- Slide nhiều chữ thì không hấp dẫn
- Sự tập trung làm ta không thấy được bức tranh tổng thể
- Ta dường như khó có thể chuyển trạng thái từ việc đọc lướt sang việc đọc cẩn thận một cách suôn sẻ và tự nhiên
- Thời gian để ta thấy không bị ngắt mạch là 100 ms
- Lỗi của con người chỉ có thể tránh được nếu có thể tránh được việc sử dụng con người
- Việc chất vấn quan điểm của mình dễ dàng hơn nhiều khi có ai đó nói ra sự chất vấn đó
- Việc mò mẫm vui, đỡ phải nghĩ và thường là hiệu quả hơn là đọc hướng dẫn cẩn thận
- Vì ta thường cần người khác cho ý kiến về suy nghĩ của ta, nên ta thường không cho được người khác ý kiến về suy nghĩ của họ
-
Nghĩ về việc nghĩ/Gánh nặng nhận thức. Thiết kế/Tìm kiếm thông tin:
- Con người dường như không được thiết kế để quá trình hỏi trở nên dễ dàng
- Có những câu hỏi ta rất muốn có câu trả lời nhưng mãi mà vẫn chưa đi google
- Khi bạn bị hỏi là sao không google, hãy trả lời rằng liệu có bao giờ họ cũng đi hỏi người ta mà không google không
- Hành vi tìm kiếm thông tin sẽ dừng ngay khi kết quả chấp nhận được ở mức tối thiểu được tìm ra
- Người tìm kiếm thông tin có xu hướng dùng phương pháp tìm kiếm tiện nhất in the least exact mode available
- Nội việc đặt câu hỏi thôi đã đủ áp lực rồi, chứ đừng nói đến việc đi google hay đặt câu hỏi tốt hơn
- Mỗi một thắc mắc đều làm tăng thêm khối lượng nhận thức mà chúng ta có trong tâm trí, qua đó làm phân tán sự tập trung của ta khỏi thứ mà ta định làm
-
Nghĩ về việc nghĩ/Học tập, hiểu biết:
- Chuyên nghiệp (professional) và chuyên gia (expertise) là hai vấn đề khác nhau
- Chúng ta săn tìm và tích trữ thông tin giống như săn tìm và tích trữ lương thực
- Hiểu là khả năng tự giải trình vì sao mình tin vào một kết luận, khả năng cân nhắc các phản ví dụ và sự sẵn sàng tự hiệu chỉnh sau những phản biện hợp lý
- Học là quá trình cấu trúc hoá những thứ phi cấu trúc
- Kiến thức là các niềm tin đúng có cơ sở
- Lúc mới học thì cần chất lượng hơn là nhanh
- Knowledge forms when we accumulate, mix, connect and visualize information
- Sự sẵn sàng và tiện lợi luôn áp đảo hơn sự chính xác
- Các phương pháp học
- Nghịch lý triển ngôn
- Ta không có đầu óc để đứng trên vai những người khổng lồ. Tự mò mẫm đỡ nhức đầu hơn
- Tự đặt ra các câu hỏi ngớ ngẩn chính là cách để học lại những gì bạn tưởng là mình đã hiểu rõ
- Hiểu biết không chỉ để mình làm một cái gì đó, mà còn để mình không làm một cái gì đó
- ❓Tác giả của một bài viết không bao giờ vét cạn được mọi từ khoá mà người đọc có thể sẽ nhập vào máy tìm kiếm để được gợi ý tới bài viết đó
- Tư duy gặng xét (critical thinking) đòi hỏi ta phải bảo vệ những luận điểm ta thấy chưa được bảo vệ thoả đáng
- Sự khác biệt giữa khai vấn, tư vấn, đào tạo, huấn luyện
-
Nghĩ về việc nghĩ/Khoa học nhận thức:
- Bộ não được thiết kế để loại bỏ mối nguy hiểm ngay bây giờ, không phải trong tương lai
- Có sự chênh lệch về sự thoải mái trong việc hỏi và việc trả lời
- Framework thường dùng cho nhiều tình huống khác nhau, trong khi model thường dùng cho một tình huống cụ thể
- Có những vấn đề lúc cần nói ra thì không không nghĩ ra nhưng vẫn cảm thấy chưa vét cạn
- Hiểu biết sâu làm ta thấy khoái cảm
- Hệ thống 1 dựa vào trí nhớ dài hạn. Hệ thống 2 dựa vào trí nhớ ngắn hạn
- Hot cognition và cold cognition
- Não coi thông tin bên trong cơ thể, cảm xúc như thông tin chính xác về thế giới bên ngoài
- Não con người thay đổi rất chậm
- Não cần thời gian để kết nối các ý tưởng lại với nhau
- Sự trì hoãn giúp giảm những hệ quả không lường trước được
- Tiếng Việt rất không thuận lợi cho việc tìm hiểu các mức độ nhận thức
- Việc trì hoãn giúp đánh giá được mức độ quan trong
-
Nghĩ về việc nghĩ/Khoa học nhận thức/Ẩn dụ:
- Bạn có thể chứng minh mọi thứ bằng ẩn dụ
- Chúng ta sống bằng ẩn dụ
- Các ẩn dụ tri nhận cơ bản dựa trên mối tương quan của cơ thể và xung quanh
- Di sản nhị nguyên của Descartes vẫn còn được sử dụng
- Ẩn dụ là nền tảng của mọi suy nghĩ và lập luận
- Ẩn dụ tô đậm những tính chất chung và ẩn đi những tính chất không chung
- Ẩn dụ được nhúng trong các neuron não. Chúng tồn tại dưới dạng vật lý
-
Nghĩ về việc nghĩ/Khoa học nhận thức/Mẫu hình, trực giác:
- Con người thường cố gắng tìm ra mẫu hình, kể cả khi nó không có ở đó
- Con người cố gắng nhìn ra mẫu hình, kể cả khi đó chỉ là sự ngẫu nhiên
- Sự chuyên gia đến từ việc nhìn ra mẫu hình
- Loài vật chỉ có trực giác. Chỉ có con người mới lập luận
- Cờ vua trông như là tư duy logic, nhưng thật ra chỉ là nhìn thấy mẫu hình
- Trực giác là việc nhìn ra mẫu hình không hơn không kém
- Trực giác là cách nhận thức không dựa trên khái niệm
- Trực giác là việc đi tới kết luận mà không thông qua suy luận
- Việc nhìn ra mẫu hình cần những kiến thức có cấu trúc được lưu trong trí nhớ dài hạn
-
Nghĩ về việc nghĩ/Khoa học nhận thức/Suy luận:
- Bất hoà nhận thức giúp chúng ta hiểu sâu sắc hơn
- Càng mất nhiều ta càng học nhiều
- Các nghịch lý tạo ra bất hoà nhận thức
- Cảm xúc không chỉ khiến ta nhớ tốt hơn, mà còn điều hướng những suy nghĩ tự động
- Khoảnh khắc loé sáng ý tưởng thường đến vào những lúc ta không tập trung chú ý
- Sự lập luận dùng để thống nhất, nhưng lại có sự thờ ơ với lập luận
- Sự dễ hiểu làm tăng sự đáng tin, dù có thể nó không hợp lý
- Sự lập luận không được tiến hoá để có quyết định tốt hơn, mà để có quyết định nhiều người đồng ý nhất
- Sự đau chi phối sự diễn giải của ta
- Ta không nhớ những điều mình đã làm người khác đau bằng nhớ những điều người khác làm mình đau
- Thay vì suy luận để đi tới kết luận, chúng ta thường dùng kết luận để suy luận
- Trong hoạt động nhóm, thiên kiến xác nhận giúp giảm gánh nặng suy nghĩ mà vẫn đảm bảo mọi lập luận được trình bày và cân nhắc
- Truyện cười thể hiện những nghịch lý
- Việc con người không thường xuyên suy luận tốt dường như là một sự sắp đặt có chủ ý của tiến hoá
- Đuối lý, cảm thấy đã được thuyết phục hoàn toàn, và né tránh việc suy nghĩ tới vấn đề là những thứ khác nhau
- Sự suy luận (reasoning) là việc đưa ra những thông tin mới từ những thông tin đã có một cách có ý thức
-
Nghĩ về việc nghĩ/Khoa học nhận thức/Trí nhớ:
- Các loại trí nhớ
- Nhiều khi ta nhớ nơi lưu trữ thông tin hơn là chính thông tin đó
- Ký ức của chúng ta chủ yếu là những mẩu 3 giây. Hầu như tất cả các mẩu này biến mất không chút dấu vết
- Trí nhớ tình tiết và thủ tục thường để não nhớ. Trí nhớ ngữ nghĩa và tương lai thường để cho não ngoài
- Ta dễ đưa ra kết luận với những thứ dễ nhớ hơn là với những thứ xảy ra thường xuyên
- Đường cong trí nhớ, Lặp lại theo khoảng (spaced repetition)
-
Nghĩ về việc nghĩ/Môi trường nghĩ, nhận thức tăng cường:
- App không render tức thời
- Con người có khả năng tự nhận thức ra lỗi tư duy của mình, dù khả năng đó không hoàn hảo
- Các công ty ít có lợi trong việc đầu tư nghiên cứu môi trường tư duy
- Explorable explanation phù hợp cho các trình bày liên quan chặt chẽ đến toán hơn
- Explorable explanation thiên về toán, còn data journalism thiên về thống kê dữ liệu
- Hmm…Because…So now…
- Hành vi và phản ứng là những thứ native trong môi trường máy tính
- Môi trường nghĩ, nhận thức tăng cường
- Môi trường nghĩ là nơi ta có thể có những loại suy nghĩ mới, những suy nghĩ mà trước đây ta không thể hình thành
- Một môi trường nghĩ thực sự mới là thứ chỉ việc dùng nó thôi sẽ thay đổi cả cách nghĩ của toàn bộ một nền văn minh
- Một nửa thời gian bạn nghĩ là bạn nghĩ thực ra bạn chỉ lắng nghe
- Nghĩ về sự nghĩ làm tăng thêm khối lượng nhận thức mà chúng ta có trong tâm trí, qua đó làm phân tán sự tập trung của ta khỏi thứ mà ta định làm
- Chúng ta không quen thuộc với luỹ thừa
- Powerful medium enables powerful representations
- Việc đơn giản hoá một khái niệm phức tạp để giải thích cho một đứa trẻ hiểu làm cho bản thân người giải thích hiểu được thêm về khái niệm
- Ý tưởng hoặc quan sát vừa nghĩ ra nếu không nhanh chóng ghi lại sẽ bị mất
- Thật khó để nghe thấy sự nghĩ của chính mình
- Đồ thị mạng lưới giúp ta thấy được mẫu hình
- ❓Môi trường nghĩ giúp ta hiểu được những thứ phi tuyến bằng việc tuyến tính hoá nó, còn công nghệ là thứ khiến ta làm được những thứ phi tuyến kể cả khi mình không thoát khỏi sự tuyến tính
- Một hệ thống lịch mà tất cả mọi người trên thế giới dùng được là một hệ thống lịch chỉ có ngày chứ không có tháng hay năm
- Việc dùng game hoá để giải thích có một bất lợi là các công ty làm game tập trung vào việc tạo ra game có tính giải trí hơn là việc giải thích
-
Nghĩ về việc nghĩ/Môi trường nghĩ, nhận thức tăng cường/Công cụ nghĩ:
- Công cụ là sự nối dài của cơ thể
- Công cụ không chỉ là cách để đạt mục tiêu nhanh hơn, mà còn thay đổi tư duy của chúng ta
- Minh hoạ dữ liệu không nhất thiết phải chính xác, mà chỉ cần đủ để đặt câu hỏi
- Xây dựng hệ thống luôn là nhiệm vụ phụ
- Sơ đồ không phụ thuộc vào hướng. Bản đồ phụ thuộc vào hướng
- Những công cụ nghĩ tốt đa phần là sản phẩm phụ của những nỗ lực giải quyết những vấn đề nghiêm túc
- Công cụ nghĩ giúp ta có thể nghĩ tới những suy nghĩ khó nghĩ và bất khả nghĩ
-
Nghĩ về việc nghĩ/Môi trường nghĩ, nhận thức tăng cường/Đọc và viết:
- Dùng thuật ngữ chính xác hơn dùng từ bình dân, nhưng ngay cả chuyên gia cũng không phàn nàn về việc dùng từ bình dân, miễn là việc đó không tạo ra sự mơ hồ
- Bản đồ là yếu tố tuyệt vời nhất của game mà các dự án có sử dụng game hoá chưa sử dụng triệt để
- In nghiêng câu trích dẫn thay vì để vào trong ngoặc kép làm câu văn tự nhiên hơn
- Giấy và bút không thể hiện hành vi của hệ thống đang được nghiên cứu
- Một văn bản không nên chỉ là thứ để truyền đạt thông tin hay hiểu biết một chiều và thụ động, mà còn nên trở thành một sân chơi cho người đọc khám phá
- Sách và bài giảng là những môi trường được thiết kế như thể người học hiểu hết hoàn toàn trong một lần tiếp thu, kể cả khi tác giả và giảng viên cũng không thực sự nghĩ vậy
- Sự phát minh ra việc viết phát minh ra việc lập luận
- Sự phát minh ra ký hiệu phát minh ra toán học hiện đại
- Không nên đánh giá một quyển sách qua trang bìa, nhưng có thể đánh giá một con người qua tủ sách
- Tinh túy của một cuốn sách chính là mục lục của nó
- Viết cho phép ta nghĩ về sự nghĩ
- Viết làm suy nghĩ không còn là vô hình
- Ta hiểu một đoạn 100 chữ nếu có không quá 3 từ không biết
- Đọc một bài viết sâu làm ta biết mình cần phải làm gì nhiều hơn là đọc một bài viết nông
- Đọc mục lục một cuốn sách thì đơn giản, nhưng có thể truy xuất được điều mình cần và vận dụng nó một cách hiệu quả thì phải đọc cả cuốn sách
- Ta không tận dụng hết được môi trường máy tính khi chỉ bắt chước môi trường giấy
- Những câu trả lời luôn giả định người hỏi hiểu trước một vài khái niệm
- ❓Tình tiết khiến ta cảm thấy vẫn hấp dẫn và có lợi ích dù không hiểu quá nhiều
- Việc rút gọn cả bài thành câu tóm tắt chỉ có tác dụng khi mình hiểu dược những khái niệm quan trọng trong bài
-
Nghĩ về việc nghĩ/Môi trường nghĩ, nhận thức tăng cường/Đọc và viết/Ghi chú thông tin:
- Collecting material feels more useful than it usually is
- Cần những cách lưu dữ liệu khác nhau cho việc họp, nghiên cứu và quản lý dự án
- Ghi chép thứ mình nhớ kém
- Ghi chú thường xanh giúp tăng khả năng nhìn thấy được mâu thuẫn
- Ghi chép tay creates a tactile information recall
- Khu vườn số luôn phát triển và thay đổi. Nó không bao giờ có trạng thái hoàn thành
- Giàn giáo nhận thức cần phải tuỳ biến với quá trình hiểu biết của người dùng
- Tiếng Anh càng làm mình muốn đọc lướt hơn
- Kể cả khi có được một tài liệu chắc chắn sẽ trả lời câu hỏi của ta, thì ta cũng thường không sẵn sàng để đọc nó
- Ghi chú thường xanh biến ý tưởng trở thành vật thể để mình thao tác
- Tóm tắt nội dung bài giảng, dùng bút đánh dấu đoạn văn bản quan trọng khi đọc sách, đọc đi đọc lại một chương sách hoá ra lại là những cách không mấy hiệu quả về ghi nhớ
- Đọc lướt không giúp ta tiếp thu được gì cả
- Việc thu thập tài nguyên tạo cảm giác hữu ích hơn là thực sự hữu ích
- Ý tưởng nếu không ghi lại ngay sẽ quên rất nhanh
-
Nghĩ về việc nghĩ/Môi trường nghĩ, nhận thức tăng cường/Mạng xã hội:
- Các bảng tin làm mình cảm giác ai cũng thấy giống mình
- Mạng xã hội mở cho dữ liệu được tự do giống như mã nguồn mở cho code được tự do
- Người mua tên miền độc lập với dịch vụ hosting. Sử dụng mạng xã hội làm họ mất sự độc lập đó
- Nền tảng đẩy việc ra quyết định vào trung tâm. Giao thức đẩy việc quyết định ra rìa mạng lưới
- Việc giảm sự tập trung chỉ có liên hệ với việc coi video ngắn không giới hạn số lần lướt. Những hình thức khác thì không
- Ưu tiên giao thức hơn nền tảng
- Nền tảng bị kẹt vào cuộc chiến giữa chống độc hại và tự do ngôn luận, ở đó quyết định nào của nó cũng không giải quyết được vấn đề
-
Nghĩ về việc nghĩ/Ngôn ngữ, ngoại ngữ, dịch thuật:
- Dịch thoát giúp người nghe không chướng tai, nhưng làm mất cơ hội để họ thấy sự khác biệt trong cách tư duy ở nguyên ngữ
- Luyện tiếng Anh
- Ta thường nhớ chỗ để của một thứ hơn là tên của nó
- Ta tương tác với thế giới qua cơ thể hàng triệu năm trước khi ngôn ngữ ra đời
- Để dịch một khái niệm, hãy vét cạn các nét nghĩa, các cách dùng, các cách hiểu về nó, rồi tìm những từ chứa đựng được càng nhiều nét nghĩa càng tốt
-
Nghĩ về việc nghĩ/Triết học công nghệ:
- Các công ty công nghệ đang thành công trong việc làm chúng ta nghĩ rằng cuộc sống vốn toàn điều bất tiện
- Khi sử dụng công nghệ, ta không nghĩ là nó sẽ thay đổi bản thân mình
- Khi hành động của một người được tạo bởi thiên kiến, ta thường nói là nó phi lý. Khi một đồ vật được tạo bởi thiên kiến, ta thường bảo rằng nó trung lập
- Mặc dù yếu tố con người luôn ảnh hưởng đến quá trình thu thập dữ liệu, nhưng mong muốn loại bỏ nó ra khỏi dữ liệu để tăng cường tính khách quan vẫn rất mạnh mẽ
- Máy móc càng tốt, ta càng gặp khó khăn khi nó không hoạt động
- Mọi công nghệ đều bắt đầu từ ý tưởng rằng mối quan hệ của ta với thế giới có thể hoặc nên khác đi
- Mọi công nghệ đều bắt đầu từ sự phản tư của con người
- Một dụng cụ có sự lý tính rất rõ ràng
- Triết học công nghệ
- Triết học ngôn ngữ là trung tâm của triết học khoa học máy tính
- Người có lý điều chỉnh bản thân theo thế giới, người vô lý kiên định điều chỉnh thế giới theo bản thân. Vì vậy, mọi tiến bộ đều tùy thuộc vào người vô lý.
- Trong khi khoa học thường đi liền với công nghệ, triết học khoa học thường nói về chân lý, còn triết học công nghệ thường nói về đạo đức
-
Nghĩ về việc nghĩ/Triết học công nghệ/Định lượng:
-
Quản lý dự án, phát triển sản phẩm, xây dựng tổ chức:
-
Quản lý dự án, phát triển sản phẩm, xây dựng tổ chức/Các câu hỏi:
- Ai là người nên được nhận hỗ trợ?
- Biết rằng một người phải đi làm để kiếm tiền, nhưng tại sao họ lại phải cảm thấy có trách nhiệm nếu phải làm một thứ họ cảm thấy hứng thú?
- Các cấp độ theo dõi một cá nhân?
- Chốt lịch cố định hay hỏi lịch rảnh mỗi tuần?
- Các dự án giáo dục đo lường mức độ thành công của mình thế nào?
- Các dự án nghiên cứu điền dã thuyết phục nhà tài trợ thế nào?
- Các dự án sắp xếp thời gian thế nào?
- Có cần phải ra hạn chót cho công việc ko
- Có những cách nào để các thành viên tự chủ động đề ra mục tiêu cho công việc của mình?
- Có lý do gì để các dự án xã hội không công bố PKM của mình
- Có nên công khai tài liệu nội bộ cho người ngoài?
- Khi chưa có hiểu hết thì có nên làm dự án thay đổi xã hội không?
- Cần bao nhiêu thời gian để xây dựng một cộng đồng?
- Khi chưa tìm hiểu hết thì có nên đưa ra quan điểm không
- Khi nào một chuyên gia về một lĩnh vực không hào hứng nói về lĩnh vực họ thành thạo?
- Khi nào một người cần và họ sẽ đóng góp, và khi nào họ thấy rất cần nhưng họ cũng không đóng góp?
- Làm sao để biết việc mọi người vẫn có thể làm thong thả như không hề có hạn chót mà vẫn có mốc thời gian cho công việc sẽ làm?
- Mối quan hệ giữa thành viên nòng cốt, động lực nội sinh của tnv và sự hứng thú của những người theo dõi
- Những người làm dự án lâu năm có vẫn thường xuyên gặp bất ngờ với độ phản ứng của thị trường không
- Nếu cảm thấy mình nhận được nhiều thì tại sao không cảm thấy hứng thú?
- Nếu TNV đã chủ động nộp đơn vào rồi, thì tại sao họ lại không có sự chủ động?
- Mỗi người làm một việc thì có cần phải quan tâm tới thành viên khác không
- Sẽ xảy ra chuyện gì nếu TNV không quan tâm lắm đến chiến lược và sự khả thi của tổ chức?
- Nếu đã tag rồi mà không trả lời thì có nên hiểu là họ không hứng thú, và mình thôi không cần tag nữa không?
- Số lượng người tham gia tối thiểu, tối đa để cuộc họp có hiệu quả?
- Tại sao các bài dịch không được ủng hộ lắm, mặc dù bài viết tổng thì được nhiều người share?
- Tính quyết định trực tiếp mà không hỏi lại ý kiến mọi người
- Tại sao không nên giải thích khi nhận sự chỉ trích
- Tại sao sự tò mò không biết nó sẽ trông như thế nào là chưa đủ để một người đóng góp cho nó?
- Tại sao tỉ lệ tương tác online kém, nhưng các bạn vẫn trả lời là hứng thú tham gia các buổi họp?
- Tại sao việc cập nhật trên Notion không làm cảm giác hiệu quả?
- Tại sao việc hướng đến động lực nội sinh là không đủ để tạo ra các ưu điểm của sự kỷ luật?
- Tại sao có những người xin vào làm tình nguyện điền đơn thấy nhiệt tình nhưng sau một buổi nói chuyện thì xin rút hoặc không trả lời?
- Tại sao việc thường xuyên tham gia vào các buổi họp nhóm không tạo cảm giác mình thuộc về nhóm?
- Việc không nhận được sự phản hồi sẽ đem đến những hệ quả gì?
- Việc phân loại các nhu cầu thành từng nhóm có giúp
- Tại sao việc phát triển bản thân thì lại có thể không vui?
- Điều gì khiến cho những dự án không thể đi đến mức cuối cùng?
- Vì sao khi chưa tìm hiểu hết chúng ta đã có thể có quan điểm ngay rồi?
- Động lực làm việc không liên quan đến sự khuếch tán trách nhiệm?
- Khi nào thì một người thấy được mình có thể giúp người khác nhưng lại không có hứng thú giúp?
-
Quản lý dự án, phát triển sản phẩm, xây dựng tổ chức/Công việc:
- Công việc chính là giải pháp
- Công việc và cuộc sống không thể tách rời nhau
- Cần nghĩ về công việc như là một cách để kiểm định giả thiết, chứ không phải chỉ để hoàn thành
- Công việc sẽ được gắn ở khắp nơi
- Insight through making
- Dự án chủ yếu gồm các công việc khai phá. Chiến dịch chủ yếu gồm các công việc khai thác
- làm sao để cân bằng giữa exploration và exploitation
- Sự hoàn hảo và không phạm sai lầm
- Quản lý cuộc sống chính là quản lý dự án
- Thành quả mong muốn và giả định của một công việc tìm hiểu một vấn đề nào đó là chính nó
- Vì tôi không biết làm nên không được giao, nhưng vì không được giao nên càng không biết làm
- Áp lực giết chết sự sáng tạo
- Điều đã biết là đã biết được dùng để lên kế hoạch chính. Điều không biết là đã biết được dùng để lên kế hoạch dự phòng. Điều đã biết là không biết thì cần nghiên cứu thêm
- ❓Chỉ số sau và kết quả mong muốn của công việc thành phần có phải là một
- Từ thành quả mong muốn nghĩ ra công việc trước dễ hơn nghĩ ra giả định trước
-
Quản lý dự án, phát triển sản phẩm, xây dựng tổ chức/Công việc/Bất định và khám phá:
- Agile dành cho sản phẩm thay đổi nhanh, và tập trung vào tốc độ và sự linh hoạt. Lean dành cho sản phẩm thay đổi chậm, và tập trung vào việc giảm lãng phí
- Công việc khai phá và công việc khai thác
- Công việc khai phá chính là việc nghiên cứu và quản lý kiến thức
- Dự án chủ yếu là các công việc khám phá. Chương trình chủ yếu là các công việc khai phá
- Nhiều khi vấn đề chỉ được phát hiện ra khi đến khâu triển khai ý tưởng
- Sau 2 tuần nên cập nhật những cái mới
- Mọi thứ nên được xây từ trên xuống, trừ lần đầu tiên
- Sự khám phá thực ra chỉ là lấy mẫu chứ không phải khám phá kiến thức
- ❓Chuyên gia là người có thể chỉ ra cho mình thứ mình không biết là mình cần
- Ta không lường trước được những công việc mình cần làm là gì trừ phi đã từng làm nó rồi
-
Quản lý dự án, phát triển sản phẩm, xây dựng tổ chức/Công việc/Sắp xếp độ ưu tiên:
- Bảng quan trọng – khẩn cấp
- Có người giới thiệu về vấn đề có lẽ là cách duy nhất để làm được những thứ mình muốn làm nhưng không khẩn cấp
- Bỏ công đi học lập trình thì không đáng, nhưng không biết thì sẽ rất lệ thuộc vào người khác
- Có những thứ ta biết là cần thiết nhưng không thể thấy thú vị nổi, thậm chí không thể đồng cảm nổi
- Giữa thời gian, chất lượng, chi phí, ta chỉ chọn được 2
- Có những cái ta cần làm trước khi ta thấy cần làm
- Khi một người dành thời gian làm một điều đúng trong quá khứ, họ là nghệ nhân bậc thầy với tầm nhìn xa trông rộng
- Muốn thấy điều không biết là mình không biết thì cần phải ở trạng thái khám phá
- Nhiều khi không chịu đi bán vì việc code tiếp sẽ có lợi hơn khi ta biết sản phẩm rồi sẽ cần phải được code tiếp
- Muốn thấy được những vấn đề lớn cần sự thong thả
- Loạn chủ đề khi chat
- Việc nghĩ về sản phẩm lôi cuốn hơn việc nghĩ về thành quả cần có hơn nhiều
- Thay vì lập ra danh sách công việc, hãy thử lập ra danh sách không phải công việc xem
- Vấn đề ngắn hạn hay dài hạn không quan trọng, quan trọng là làm cái này mà phải nghĩ về cái khác thì sẽ nhức đầu
- Điều quan trọng thì thường hiếm khi khẩn cấp, và điều khẩn cấp thì thường hiếm khi quan trọng
- Ý tưởng sinh ra không theo độ khẩn cấp
- ❓Sự khác biệt giữa việc thấy một thứ là có tiềm năng và cần thứ đó là gì
- Số lượng vấn đề tìm ra trong 1 buổi có thể nhiều hơn số lượng vấn đề có thể giải quyết trong 1 tháng
- Lý do mọi người hay gặp nước đến chân mới nhảy, không giải quyết chuyện quan trọng khi vấn đề còn nhỏ là vì ta không có đầu óc để nghĩ đến nó
-
Quản lý dự án, phát triển sản phẩm, xây dựng tổ chức/Công việc/Sắp xếp độ ưu tiên/Ra quyết định:
- Phân tích quyết định đa tiêu chí (MCDA) là phương pháp để tìm điểm đánh đổi tối ưu nhất
- Đừng ra quyết định khi bụng đói
- ❓Kết quả cuối cùng của MCDA có khác gì với tiền
- ❓Dù việc sử dụng phân tích quyết định đa tiêu chí vẫn là quy về một chỉ số, thì việc theo đuổi nó vẫn khác với theo đuổi một chỉ số thành phần, nên cũng không sợ nó quá đơn giản
-
Quản lý dự án, phát triển sản phẩm, xây dựng tổ chức/Công việc/Thành quả, thành phẩm, tầm nhìn, mục tiêu:
- Giải pháp gợi ý chính là thành phẩm
- Dự án là sản phẩm
- Mục tiêu, yếu tố hỗ trợ, ý tưởng tốt hơn. Mục tiêu, sản phẩm, hoạt động, tác vụ
- Tầm nhìn = thành quả lớn nhất
- Tầm nhìn là thứ mình muốn có. Sứ mệnh là thứ mình sẽ làm. Sản phẩm là thứ mình tạo ra
- Một sản phẩm được tạo nên bởi nhiều thành phẩm. Thứ ta gọi là sản phẩm thành phần, hoặc sản phẩm nhỏ hơn, chính là thành phẩm
- Tầm nhìn là điều mình sẽ có khi tất cả mọi hoạt động của mình đều thành công
- Working on niche, personally-meaningful projects brings weirder, more serendipitous inbounds
- Đổi những câu hỏi chất vấn giả định của một thành quả về dạng khẳng định thì ta sẽ có những thành quả mong muốn thành phần
- ❓Một object khi chưa tồn tại mà ta muốn có nó thì nó là objective
- ❓Tại sao không gọi thẳng là kết quả từ sự thay đổi hành vi của người dùng?Dùng thành quả dễ gây nhầm lẫn cho người chưa biết
- ❝Mục tiêu❞ và ❝Kết quả❞ là những từ bao trùm
-
Quản lý dự án, phát triển sản phẩm, xây dựng tổ chức/Công việc/Thành quả, thành phẩm, tầm nhìn, mục tiêu/Nhu cầu, nguồn lực:
-
Quản lý dự án, phát triển sản phẩm, xây dựng tổ chức/Công việc/Thành quả, thành phẩm, tầm nhìn, mục tiêu/Thành quả (outcome), thành phẩm,:
- Các cấp trong tổ chức nên nói chuyện với nhau bằng thành quả
- Mọi thành quả mong muốn đều chứa trong mình những giả định
- Nhu cầu mà có định lượng sẽ là kết quả mong muốn
- Nhìn vào hành trình người dùng và xem coi hành vi nào giúp đạt được mong muốn của mình. Đó chính là thành quả mình cần hướng đến
- Sản phẩm là kết quả của các công việc
- Sản phẩm là sự bồi tụ của các dòng hải lưu nhu cầu và kết tinh của nguồn lực
- Sản phẩm là vùng đất
- Sản phẩm là vật thể
- Thành phẩm (output) là các kết quả trực tiếp của các công việc
- Một số thành phẩm sẽ có những thành quả mong muốn bên trong nó, nhưng thường chỉ là thành phẩm nhỏ hơn
- Thành quả (outcome) là kết quả thu được do sự thay đổi về hành vi của người dùng khi tương tác với sản phẩm đã được cải tiến hoặc sản phẩm mới
- Thành quả quan trọng hơn thành phẩm
- Thành quả phải có nhiều không gian để thay đổi
- Tiêu đề của thành quả mong muốn bắt đầu bằng người dùng
-
Quản lý dự án, phát triển sản phẩm, xây dựng tổ chức/Công việc/Thời gian làm việc:
- Chỉ có thể ước lượng được thời gian cần có để hoàn thành khi công việc của ta gần như chỉ gồm công việc khai thác
- Cây quyết định và PERT dành cho những dự án chủ yếu gồm các công việc khai thác
- Gọi sự chú ý là tài nguyên là không chính xác, vì đa phần ta có thể sống thiếu tài nguyên, còn sự chú ý chính là sự sống
- Khi đã chuyển được nhiều thứ mình biết là mình không biết sang mình biết là mình biết, thì xác suất dự đoán chính xác thời gian hoàn thành sẽ tăng lên
- Lên lịch khối thời gian giúp cân bằng sự quan trọng và khẩn cấp
- Danh sách công việc chỉ là danh sách chờ. Để một công việc thực sự được tính đến, ta cần để nó vào lịch
- Mọi thứ sẽ luôn tốn thời gian hơn bạn nghĩ
- Nếu bạn nghĩ rằng bạn có thể hoàn thành đúng kế hoạch, có thể bạn đang ngộ nhận
- Quản lý công việc là quản lý thời gian
- Quản lý tác vụ chỉ có thể giải quyết khi nó kết hợp được lịch để time blocking
- Việc họp hành phá hỏng việc tạo sản phẩm
- Xong hạn chót này thì sẽ tới hạn chót khác
-
Quản lý dự án, phát triển sản phẩm, xây dựng tổ chức/Hệ thống thông tin:
- Các nhóm làm việc qua mạng ngày càng nhiều
- Các tổ chức thường chỉ lưu trữ kiến thức mà ít khi dành nhiều sự chú ý tới kết nối chúng
- Dữ liệu chính là lập trình
- Email không được sinh ra để trao đổi thông tin, mà là để làm todo list
- Ghi chú thì linh hoạt, nhưng tĩnh. App thì cứng nhắc, nhưng động
- Quản lý công việc và quản lý kiến thức không thể tách rời nhau
- Sự khác biệt giữa các ứng dụng quản lý chủ yếu ở nghiệp vụ cần giải quyết chứ không nằm ở yếu tố kỹ thuật
- Ta được hứa hẹn sẽ có những chiếc xe đạp cho tâm trí. Thay vào đó ta lại có máy bay
-
Quản lý dự án, phát triển sản phẩm, xây dựng tổ chức/Hệ thống thông tin/Cấu trúc:
-
Quản lý dự án, phát triển sản phẩm, xây dựng tổ chức/Hệ thống thông tin/Hình thức lưu trữ:
- Dữ liệu dưới dạng văn bản phù hợp cho việc quản lý kiến thức
- Silo thông tin khiến cho những thao tác tự động hoá đơn giản không thể làm được
- CRM tập trung vào tăng sale, ERP tập trung vào cắt giảm chi phí
- ❓Tại sao không cho người chưa biết gì về CNTT học về cơ sở dữ liệu trước thay vì học lập trình trước?
- Việc lưu dữ liệu ở các công cụ khác nhau tạo thành các silo thông tin
-
Quản lý dự án, phát triển sản phẩm, xây dựng tổ chức/Hệ thống thông tin/No code, low code:
- Các ERP được dựng sẵn không đủ khả năng đáp ứng những luồng làm việc và suy nghĩ đặc thù
- Các tiếp thị về no code hàm ý rằng việc code là việc khó nhất trong việc tạo sản phẩm, nhưng thực ra việc thảo luận và lên kế hoạch mới là thứ quan trọng nhất
- Dùng low code để xây dựng hệ thống là đang mang nợ kỹ thuật vào người
- Cái tên no code chỉ bình mới rượu cũ của GUI
- File Google Docs không thực sự là file
- Lập trình viên khó chịu với hệ thống low code vì nó được tiếp thị như là một giải pháp hoàn hảo có thể giải quyết được mọi nhu cầu thực tế
- Sản phẩm no code không thể nào đáp ứng được nhu cầu tuỳ biến cao
- Sản phẩm no code đem đến sự phản hồi tức thời
- No code so với có code giống như so xe Lego so với ô tô thực sự
-
Quản lý dự án, phát triển sản phẩm, xây dựng tổ chức/Hệ thống thông tin/No code, low code/Excel:
- Excel dịch chuyển một phần quyền lực của chuyên gia IT vào người sử dụng
- Excel không cho ta quản lý phiên bản được
- Excel không cản ta làm điều mà ta sẽ hối tiếc
- Excel không phù hợp cho việc lập cơ sở dữ liệu
- Excel không làm ta hiểu về lập trình một cách đúng đắn
- Excel là loài gián trong ngành phần mềm
- Excel là một ngôn ngữ lập trình mà không làm ta cảm giác là đang lập trình
- Excel là nguồn ý tưởng cũng như là kẻ thù lớn nhất của các SaaS
- Excel là người bạn tuổi thơ tuyệt vời, nhưng là kẻ thù của tuổi dậy thì
- Excel đã làm một việc phi thường trong việc giáo dục hàng trăm triệu người về sức mạnh của phần mềm
- Excel là sản phẩm low code tồn tại lâu dài nhất
-
Quản lý dự án, phát triển sản phẩm, xây dựng tổ chức/Phát triển sản phẩm:
- An outcome is a change in human behavior that drives business results
- các công ty không quan tâm đến tính năng chuyên biệt
- Có thêm nhân viên không làm sản phẩm phù hợp với thị trường hơn
- Bởi vì sản phẩm có tính quy hồi và có thể là thành phẩm chung của nhiều sản phẩm lớn hơn, nên để quản lý được nó ta phải biết lập trình
- Insight không dùng đi dùng lại
- Design thinking bắt đầu từ một đề bài. Nhưng đề bài được ra thế nào thì không nói
- Insight trong phát triển sản phẩm gắn liền với việc thay đổi hành vi người dùng
- Khi app có nhiều tính năng thì sẽ không biết một người dùng không vào là vì họ không tìm thấy tính năng họ cần hay là vì họ không biết app có tính năng họ cần
- Làm sản phẩm thiên về cảm giác, làm tăng trưởng thiên về dữ liệu
- Mô hình xoắn ốc nhấn mạnh vào phân tích rủi ro
- Lean comes from the automotive industry and they have a lot of regulations to follow
- Người dùng hài lòng với chất lượng sản phẩm, không phải tốc độ làm ra nó
- Người dùng yêu cầu tính năng không có nghĩa là họ sẽ dùng
- Ngôn ngữ của người dùng và ngôn ngữ của người cung cấp giải pháp có thể khác nhau
- Nên chọn tính năng nào
- Phát triển sản phẩm
- Phân loại người dùng khi phát triển sản phẩm khác với phân khúc khách hàng
- Những người viết phần mềm vì cả nhu cầu của mình và người giống mình
- Sản phẩm ra mắt 10 năm rồi cũng có thể không biết gì về người dùng
- Đặc điểm của quy trình phát triển sản phẩm truyền thống là bước nghiên cứu xem ý tưởng có đúng không luôn đến sau việc nghĩ ra được ý tưởng đó trước
- Việc làm sản phẩm thì muốn làm thật ít chức năng càng tốt, nhưng việc viết phần mềm đòi hỏi nên lên kế hoạch các chức năng kỹ càng
- ❓Thu thập kinh nghiệm từ các blog cũng là xây dựng sản phẩm
- ❓Tung ra quá sớm sẽ dễ bị thị trường chi phối ngược lại
- ❓Có nên làm tiếp thị khi mình chưa làm nghiên cứu người dùng không
- ❓Với một sản phẩm demo còn nhiều lỗi vặt thì có cần phải hoàn thiện những lỗi vặt đó trước khi hỏi ý kiến khách hàng không
-
Quản lý dự án, phát triển sản phẩm, xây dựng tổ chức/Phát triển sản phẩm/Chỉ số:
- Chỉ số ta theo đuổi phải là chỉ số về giá trị của sản phẩm đối với người dùng
- Chỉ theo đuổi một chỉ số là quá đơn giản
- Chỉ số
- Các chỉ số đo lường thu nhập
- Con số không nói dối, nhưng nó nói nửa sự thật, và người nói dối dùng con số
- Dựa vào KPI thì bộ phận kinh doanh sẽ có tiếng nói lớn nhất, còn đội phát triển sản phẩm rất ít có tiếng nói
- Khi một phép đo trở thành mục tiêu, nó thường mất đi sự hiệu quả của nó
- Mô hình phễu không xem khách hàng như là người cùng đồng hành với mình
- Nếu bạn không thể đo lường, bạn không thể cải tiến
- NPS trên 50% là đạt được sản phẩm phù hợp thị trường
- Thứ nào được đo thì sẽ tốt lên, còn thứ nào khó đo thì sẽ tệ đi
- ❓Có phải thứ quan trọng nhất là tìm được sản phẩm phù hợp thị trường không
- Đừng dùng chỉ số sao bắc cực, hãy dùng chỉ số hải đăng
- ❓Việc theo đuổi chỉ số sẽ không phải là vấn đề nếu người tạo ra chỉ số là người quyết định dự án hoặc không để quyết định con người
- ❓Việc theo đuổi các chỉ số ESG, phát triển bền vững có giúp làm điều tương tự không
- ❓Theo đuổi một bộ chỉ số thì không còn sợ là quá đơn giản nữa
-
Quản lý dự án, phát triển sản phẩm, xây dựng tổ chức/Phát triển sản phẩm/Chỉ số/Tăng trưởng:
- Hệ số k đo lường số lượng người dùng mới mà mỗi người dùng cũ đem lại
- Tăng trưởng thị trường là khoảng cách giữa chuyển đổi và rời bỏ
- Chỉ nên nghĩ về viral khi đã có một lượng người thực sự sử dụng sản phẩm của mình
- Tăng trưởng thị trường quan trọng hơn tăng trưởng doanh số
- Tỉ lệ quay lại là thứ quan trọng nhất trong tăng trưởng
-
Quản lý dự án, phát triển sản phẩm, xây dựng tổ chức/Phát triển sản phẩm/Kiểm định giả thuyết:
- Có quá nhiều điều cần kiểm chứng nhưng dù muốn đi tìm cũng không ai chịu dành thời gian để trả lời
- Giả định có mặt ở khắp nơi
- Hãy suy nghĩ độc lập, nhưng phản biện cùng nhau
- Hãy liệt kê những niềm tin trước khi phỏng vấn
- Nên so sánh nhiều ý tưởng cùng lúc hơn là đánh giá từng ý tưởng một
- Nếu người dùng nói cho mình nhu cầu của họ thì mình không cần phải đi khảo sát nhu cầu họ nữa, mình cũng không phải lo lắng xem giả định của mình có sai hay không
- Hệ thống giả thiết ban đầu dễ khiến ta bỏ qua việc kiểm chứng niềm tin, hoặc kiểm chứng bằng những câu hỏi định hướng
- Quan trọng là chứng minh được rằng điều mình làm thành công hay không, chứ không phải là tin rằng nó có thể thành công rồi mới làm
- Rất khó để kiểm chứng hết toàn bộ các giả định
- Sử dụng nhiều phương pháp khác nhau để kiểm tra giả thuyết sẽ tránh thiên kiến tốt hơn là dùng một phương pháp nhiều lần
- Việc kiểm định giả thuyết thường bị bỏ qua khi có quá nhiều việc
- Đừng chạy theo tính năng, mà hãy xác định vấn đề cần ưu tiên giải quyết và nhanh chóng kiểm tra các giả thuyết
- ❓Thu thập dữ liệu đến đâu là đủ
- Để có thể thiết kế một giải pháp một cách nhanh chóng và tự tin, ta cần được thử nghiệm ý tưởng mới và kiểm tra giả thiết ngay khi chúng vừa được nghĩ ra
-
Quản lý dự án, phát triển sản phẩm, xây dựng tổ chức/Phát triển sản phẩm/Nghiên cứu, tìm ý tưởng:
- Giai đoạn lên ý tưởng thường khó khăn
- Các nghiên cứu có thể có cùng một mục tiêu nghiên cứu, nhưng khác nhau về câu hỏi nghiên cứu
- Idea là một cái gì đó để thử, còn insight là kết quả của sự thử
- Mô hình kinh doanh và định giá
- Nghiên cứu, tìm ý tưởng
- Những câu hỏi đánh giá tác động đòi hỏi phải nghiên cứu sâu
- Ý tưởng với hiểu biết sâu đều là giả thiết
- ❓Hiểu biết sâu thông qua việc bắt tay vào làm, hay hiểu biết sâu thông qua việc nghiên cứu
- Phân loại người dùng khi phát triển sản phẩm khác với phân khúc khách hàng
- ❓Khảo sát để lọc ứng viên phỏng vấn khác gì khảo sát để xác nhận phát hiện mới từ phỏng vấn trên quy mô lớn
- 1 nghiên cứu 20 ngày khác với 4 nghiên cứu 5 ngày
-
Quản lý dự án, phát triển sản phẩm, xây dựng tổ chức/Phát triển sản phẩm/Nghiên cứu, tìm ý tưởng/Các bên liên quan, bối cảnh cạnh tranh:
- Biểu đồ cánh hoa phù hợp cho việc phân tích bối cảnh cạnh tranh ở một thị trường mới hoặc resegmented markets
- Biểu đồ cạnh tranh XY phù hợp cho việc phân tích bối cảnh cạnh tranh trên một thị trường đã có sẵn
- Tổng hợp các cách biểu diễn các bên liên quan
- Các mạng xã hội có những báo cáo về xu hướng của người dùng nền tảng của họ
- Biểu đồ cạnh tranh giúp ta có được những giả định đầu tiên về những khách hàng đầu tiên của chúng ta
-
Quản lý dự án, phát triển sản phẩm, xây dựng tổ chức/Phát triển sản phẩm/Nghiên cứu, tìm ý tưởng/Lên kế hoạch:
- Ai cũng có một kế hoạch cho tới khi bị đấm vào mồm
- Những thứ không quan trọng có thể tự xử lý lẫn nhau
- Sự ghi chú tạm để để sau thôi cũng có khi tốn vài tiếng
- Nên ưu tiên làm những việc có thể sẽ khiến ta phải viết lại kế hoạch
- Việc lập kế hoạch là để giảm những hệ quả không lường trước được và tạo ra được sự bền vững dài hạn
- Việc ưu tiên ra quyết định nhanh làm ta thấy thảo luận và dành thời gian xây dựng kế hoạch và nghiên cứu là phí thời gian
- Để không bị đối thủ đấm vào mồm mà còn đấm được vào mồm hắn thì phải lên kế hoạch
- Việc bàn kế hoạch sẽ có nhiều chủ đề đâm ngang mà cũng phải bàn cho rốt ráo
-
Quản lý dự án, phát triển sản phẩm, xây dựng tổ chức/Phát triển sản phẩm/Nghiên cứu, tìm ý tưởng/Người dùng:
- Dữ liệu cho dự đoán tin cậy về hành vi người dùng
- Dữ liệu cho ta biết hành vi của một người, nhưng không nói lý do họ làm điều đó
- Sự miễn phí chỉ có ích khi ta cần phản hồi của người dùng, hoặc khi nền tảng của ta cần hiệu ứng mạng
- ❓Với những người mà mình biết sẽ có cố gắng tìm hiểu mình, mình nên tiếp tục cho họ thấy mình có những thứ họ cần, hay là cho họ thấy mình là như thế nào
-
Quản lý dự án, phát triển sản phẩm, xây dựng tổ chức/Phát triển sản phẩm/Nghiên cứu, tìm ý tưởng/Người dùng/Khảo sát:
- Có 4 loại câu hỏi khảo sát
- Khảo sát định lượng chỉ có tính chính xác tương đối
- Vì câu hỏi nghiên cứu thường là câu hỏi mở, nên ta cần chuyển thành câu hỏi định lượng được
- Khảo sát thường được dùng để kiểm chứng các phát hiện quan trọng có được từ phỏng vấn trên quy mô lớn
- Khảo sát tốt nhất là chỉ có một câu. Người chịu khó trả lời câu hỏi mở thường là người đã quý mến mình sẵn rồi
-
Quản lý dự án, phát triển sản phẩm, xây dựng tổ chức/Phát triển sản phẩm/Nghiên cứu, tìm ý tưởng/Người dùng/Persona, câu chuyện người dùng:
- Các câu chuyện mà người dùng kể được lấp đầy bởi khoảng trống mà họ kỳ vọng vào thế giới
- Persona tuy tạo sự đồng cảm với người làm sản phẩm, nhưng lại chứa quá nhiều giả định
- Đừng dùng câu chuyện người dùng (user story), mà hãy dùng câu chuyện công việc (job story)
- ❓Persona khác gì với segmentation
- ❓Persona là exemplar của segmentation
- Segmentation là một nhóm user, còn persona thường là một chân dung có tính đại diện của nhóm đó
-
Quản lý dự án, phát triển sản phẩm, xây dựng tổ chức/Phát triển sản phẩm/Nghiên cứu, tìm ý tưởng/Người dùng/Phỏng vấn:
- 5 người dùng đầu tiên phát hiện 85% vấn đề ở sản phẩm
- Hãy hỏi người dùng họ cần sản phẩm này để giải quyết việc gì
- Insight sẽ thường ra ngay lúc phỏng vấn
- Khi phỏng vấn hãy hỏi cả về hành vi, đừng chỉ hỏi về lý do họ làm điều đó
- Kết quả phỏng vấn phải actionable
- Một số ví dụ về mục tiêu nghiên cứu
- Người tham gia phỏng vấn nhóm cần có đặc điểm tương đồng để mọi người cảm thấy tự tin, thoải mái
- Nếu có thể phỏng vấn liên tục thì không gặp phải áp lực hỏi quá nhiều
- Phần lớn các câu hỏi nghiên cứu không thể sử dụng để hỏi trực tiếp
- Phỏng vấn là để hiểu vấn đề người dùng gặp phải, không phải để cải thiện giải pháp
- Nghiên cứu người dùng không nên là một bước, mà nên là một hoạt động diễn ra liên tục
- Phỏng vấn phù hợp để hiểu lý do cho một hành vi của một người
- Phỏng vấn phù hợp để đánh giá cách tiếp nhận hay thái độ
- Phỏng vấn thường kém chính xác trong việc dự đoán các hành vi tương lai của người dùng
- Phỏng vấn
- Phỏng vấn người dùng nên được diễn ra liên tục, tốt nhất là hàng tuần. Khảo sát thì không nên nhiều, mỗi quý một lần là được
- Trong nhiều trường hợp, kết quả phỏng vấn bị rơi vào quên lãng
- Trả tiền cho người phỏng vấn sẽ khiến họ làm việc chuyên nghiệp
- ❓Câu hỏi khiến cho đáp viên muốn nói dối
- ❓Có nên phỏng vấn một người nhiều lần để vét cạn suy nghĩ của họ về các giả thiết của mình
- ❓Có nên yêu cầu người tham gia phỏng vấn phải đọc trước cái gì không
- ❓Có nên đưa câu hỏi trước cho người tham gia phỏng vấn đọc trước không. Có nên cho họ coi kết quả ghi chú của mình không
- Việc phỏng vấn làm ta mệt và muốn nghỉ ngơi, nhưng ta vẫn phải tiếp tục làm
- ❓Người dùng thấy không hiểu ý đồ của mình và giải thích nhiều vì nghĩ là mình không hiểu
- ❓Làm sao để cho họ tiếp tục nói hết ý của mình khi mà họ không có nhiều thời gian cho mình, và mình cũng không có nhiều tiền để trả họ
- Tìm hiểu vào bối cảnh, không chỉ hành vi đơn lẻ
- Phỏng vấn phi cấu trúc hữu ích khi nghiên cứu viên có đủ thời gian phỏng vấn nhiều lần, ở nhiều hoàn cảnh khác nhau, và khi chủ đề nhạy cảm
-
Quản lý dự án, phát triển sản phẩm, xây dựng tổ chức/Phát triển sản phẩm/Nghiên cứu, tìm ý tưởng/Người dùng/Phỏng vấn/Chọn người phỏng vấn:
- Người dùng dịch vụ của mình thường phản hồi những thứ họ chấp nhận được. Người dùng dịch vụ của đối thủ thường phản hồi những thứ họ không chấp nhận được
- Nên phỏng vấn cả những người không nằm trong nhóm đối tượng mục tiêu của mình
- Nên phỏng vấn một tập người dùng nhiều lần, nhưng không nên một người nhiều lần
- Việc chọn đối tượng phỏng vấn phụ thuộc vào việc giả định của mình liên quan đến hành vi nào
- Người thích mình thường có nhu cầu khác về sản phẩm so với người không thích mình
-
Quản lý dự án, phát triển sản phẩm, xây dựng tổ chức/Phát triển sản phẩm/Nghiên cứu, tìm ý tưởng/Người dùng/Phỏng vấn/Hành vi người dùng:
- Con người không muốn mâu thuẫn với những điều mình nói ra
- Con người nhiều khi không nói dối mà chỉ đang lý tưởng hoá bản thân
- Con người thường lạc quan về hành vi của mình
- Người dùng nói thích một tính năng không có nghĩa là họ sẽ bỏ những sản phẩm khác để đến với tính năng của mình
- Người có nhu cầu thường để lại ấn tượng nhiều, nhưng số lượng không nhiều trong thị trường
- Người dùng thường không nói không với những tính năng mới
- Sự tiêu cực của người dùng là cơ hội làm dự án
-
Quản lý dự án, phát triển sản phẩm, xây dựng tổ chức/Phát triển sản phẩm/Quan niệm, thái độ, hành vi của người dùng:
- Khoảng 20% người mở tab lên là tắt ngay hoặc để đó không đọc
- Người muốn có giải pháp sẽ muốn đọc nội dung dài
- Những tính năng khác của app hấp dẫn hơn tốc độ app, trừ phi nó quá chậm
- Người đã biết xài công nghệ sẽ muốn tiết kiệm thời gian
- Trong số những người chịu đọc, về trung bình họ dành ra 25 s đầu để hiểu giao diện, các tính năng khác và hình ảnh. Sau đó cứ 100 chữ thì đọc thêm 4.4 s, cỡ 18 chữ
-
Quản lý dự án, phát triển sản phẩm, xây dựng tổ chức/Quản lý rủi ro:
-
Quản lý dự án, phát triển sản phẩm, xây dựng tổ chức/Quỹ, gọi vốn:
- Hãy nhắm còn đủ tiền cho khoảng 20 đến 30 lần thất bại
- Không thể làm dự báo tài chính dài hạn khi chỉ mới có một vài người dùng
- Người cho tiền thấy mình đáng được cho tiền nhất khi không thấy mình cần tiền
- Nhà đầu tư đầu tư vào bạn và vào câu chuyện của startup
- Trước khi gây quỹ cần biết mục tiêu của mình là gì
- Việc thuê ngoài chỉ giải quyết được một lần, trong khi phải thử rất nhiều lần
- Quỹ, gọi vốn
-
Quản lý dự án, phát triển sản phẩm, xây dựng tổ chức/Quỹ, gọi vốn/Bán cho khách hàng:
-
Quản lý dự án, phát triển sản phẩm, xây dựng tổ chức/Quỹ, gọi vốn/Gọi vốn cộng đồng:
- Funder-exclusive writing should be a secondary by-product of primary work
- Crowdfunding depends on highly visible public work
- Getting Paid for Open Source Work
- Lý do thường gặp nhất của những người ủng hộ trên Patreon là để sản phẩm mà tác giả đang làm hoàn thành sớm hơn, hơn là để cảm ơn những gì họ đã làm
- Patreon không được thiết kế để có được sự tương tác trực tiếp với người ủng hộ
- Patreon quảng cáo theo ngôn ngữ của kinh tế quà tặng, nhưng cách vận hành lại theo kinh tế thị trường
- Patreon vận hành gần giống như một cuộc mua bán hơn là hoàn toàn ủng hộ
-
Quản lý dự án, phát triển sản phẩm, xây dựng tổ chức/Quỹ, gọi vốn/Gọn vốn đầu tư:
- Nhà đầu tư tìm kiếm tiền trong vụ đầu tư
- Nhà đầu tư đầu tư vào việc kinh doanh, không phải ý tưởng
- Thiên thần dùng tiền của bản thân. VC dùng tiền của người khác
- Thứ quyết định hiệu quả của việc kinh doanh là văn hoá doanh nghiệp và phản ứng của thị trường về mình
- Nhà đầu tư tốt nhất đầu tư vào những startup chưa có câu chuyện thuyết phục, vì khi đã có câu chuyện thuyết phục rồi thì startup có giá đắt hơn
- Định giá
- Để gọi vốn thì rất cần nắm chắc những con số
- Nếu không thế nói về thành tựu của mình thì hãy nói về tốc độ của mình
- Thứ quan trọng không phải là ý tưởng, mà là người có ý tưởng
-
Quản lý dự án, phát triển sản phẩm, xây dựng tổ chức/Quỹ, gọi vốn/Tài trợ từ doanh nghiệp, CSR:
-
Quản lý dự án, phát triển sản phẩm, xây dựng tổ chức/Quỹ, gọi vốn/Xin quỹ nghiên cứu:
-
Quản lý dự án, phát triển sản phẩm, xây dựng tổ chức/Thành lập dự án:
-
Quản lý dự án, phát triển sản phẩm, xây dựng tổ chức/Thành lập dự án/Startup:
- Không có giải pháp nào cho người sáng lập để giải quyết sự quá tải ngoài những lời khuyên chung chung
- Chiếm lĩnh thị trường nhỏ trước
- Làm người sáng lập có hại cho việc cân bằng cuộc sống
- Mở ra một công ty giống như nhảy xuống vực và lắp được máy bay trong lúc rơi xuống
- Nhà đầu tư không ăn cắp ý tưởng vì phải cạnh tranh với các nhà đầu tư khác
- Những dự án ngoài lề thường là ý tưởng tốt cho startup. Những ý tưởng chỉ để có một startup lại thường không tốt
- Nhà đầu tư là người ra quyết định cuối cùng về sản phẩm, không phải người dùng
- Quá trình chú ý và ghi nhớ ép ta phải đơn giản
- Startup giải quyết những vấn đề nghe thì tồi
- Sự đơn giản ép ta phải làm nó cực kỳ tốt
- Việc kể ý tưởng startup ra thường không phải là nguy hiểm, vì không ai cạnh tranh với ý tưởng tồi
- Startup = tăng trưởng
- Ý tưởng startup lớn thách thức căn tính của bạn
- Đừng nhìn vào đối thủ cạnh tranh, mà hãy nhìn vào người dùng
- Hiểu về quản trị chỉ cần thiết khi đã có thành công bước đầu. Trước đó thì hãy chỉ tập trung vào sản phẩm
- Đa số startup không chết vì cạnh tranh với đối thủ, mà vì không có người dùng sản phẩm của mình
-
Quản lý dự án, phát triển sản phẩm, xây dựng tổ chức/Xây dựng nhóm, quản lý nhân sự:
- Gốc của thương hiệu là văn hoá doanh nghiệp
- Không nên có quá 20 nhân sự khi chưa có sản phẩm phù hợp thị trường
- Sociocracy
- ❓Liệu quy luật 1% vẫn còn đúng cho nhóm nòng cốt
- Văn hoá giao tiếp bối cảnh thấp thường có ở tổ chức phẳng. Văn hoá giao tiếp bối cảnh cao thường có ở tổ chức phân cấp
- ❓Thành viên nòng cốt không cần trách nhiệm ngang hàng, nhưng cần có sự tự gánh trách nhiệm
- ❓Thành viên nòng cốt là người chịu trách nhiệm lớn nhất hay là người có nhiều đóng góp nhất
-
Quản lý dự án, phát triển sản phẩm, xây dựng tổ chức/Xây dựng nhóm, quản lý nhân sự/Kênh liên lạc:
-
Quản lý dự án, phát triển sản phẩm, xây dựng tổ chức/Xây dựng nhóm, quản lý nhân sự/Phân cấp, quản lý:
- Một người sẽ tiếp tục được thăng chức dựa trên thành tích trong vai trò hiện tại cho đến khi họ đạt đến một vị trí mà họ không đủ năng lực thực hiện tốt
- Vị trí càng cao trong tổ chức thì đề xuất càng dễ bị cấp dưới hiểu thành yêu cầu phải làm
- Người người vạch chiến lược hay nhiều khi được giao triển khai luôn, hoặc người làm chuyên môn tốt nhiều khi được đề bạt lên làm quản lý, lãnh đạo
- Người lãnh đạo tốt là người tránh được khủng hoảng ngay từ đầu chứ không cần vượt qua nó. Nhưng vì vậy, họ sẽ không có câu chuyện thú vị nào để kể
-
Quản lý dự án, phát triển sản phẩm, xây dựng tổ chức/Xây dựng nhóm, quản lý nhân sự/Tạo sự tin tưởng:
- Có một quy trình đánh giá năng lực định kỳ sẽ làm giảm vấn đề khi tăng lương hoặc đuổi việc nhân viên
- Một nhóm đáng tin là nhóm mà các thành viên có thể nói lên sai lầm của mình
- Nhìn thấy được người kia đang làm gì làm tăng sự tin tưởng đối với họ
- Văn hoá tổ chức là những giá trị, niềm tin và hành động của mỗi thành viên giúp đóng góp cho sứ mạng của nó
-
Quản lý dự án, phát triển sản phẩm, xây dựng tổ chức/Xây dựng nhóm, quản lý nhân sự/Thảo luận, ra quyết định:
-
Quản lý dự án, phát triển sản phẩm, xây dựng tổ chức/Xây dựng nhóm, quản lý nhân sự/Tìm người làm:
-
Quản lý dự án, phát triển sản phẩm, xây dựng tổ chức/Xây dựng nhóm, quản lý nhân sự/Tổ chức học tập:
-
Ξ Khái niệm:
- Chiến dịch
- Cân bằng
- Chính xác
- Cảm xúc
- Câu hỏi nghiên cứu
- Dự đoán
- Dữ liệu
- Game hoá
- Giao diện
- Giả định
- Hiểu
- Dự án
- Công cụ, công nghệ
- Hệ sinh thái
- Khoa học
- Kiến thức
- Kiến trúc
- kn
- Mô hình
- Nguồn lực
- Giải trung tâm
- Nhân văn số
- Phân cấp
- Khảo sát
- Nền tảng
- Phản hồi
- Phân tích
- Phỏng vấn
- Quy mô
- Mạng lưới
- Phức tạp, phức hợp
- Sáng tạo
- Sự không biết
- Thành quả
- Rủi ro
- Triết học
- Tiện
- Thời gian, lịch
- Trung tâm hóa
- Tóm tắt, mục lục
- Tự tổ chức
- Web
- Tác giả
- Định lượng
- Tình tiết
- Điều tra viên
- Đồ thị mạng lưới
-
Ξ Khái niệm/Cộng đồng:
-
Ξ Khái niệm/Kinh tế:
-
Ξ Khái niệm/Nhận thức:
-
Ξ Khái niệm/Nhận thức/Công cụ nghĩ:
-
Ξ Khái niệm/Phát triển sản phẩm, lên kế hoạch, công việc:
- backup
- Achievement
- Công việc thành phần
- Công việc
- Goal
- Hoạt động
- Hướng tới một thứ gì đó
- Impact
- Kế hoạch (khái niệm)
- Nhu cầu
- Mục tiêu
- Phi tuyến
- Quản trị kiến thức
- Sản phẩm
- Quỹ
- Thước đo, đo lường, chỉ số, KPI
- Yếu tố hỗ trợ
- Ý tưởng tốt hơn
- Điều kiện cần
- Điều kiện đủ
- Điều kiện
- Điều đối tượng thấy
- Tác vụ
- Ưu tiên
- Đơn giản
-
Ξ Khái niệm/Quản lý tổ chức:
-
Ξ Khái niệm/Quản lý tổ chức/93 Thống nhất nội hàm, khái niệm:
- 93.01 Đồ thị nội hàm các khái niệm
- Lợi ích, phúc lợi, quyền lợi
- Cuộc sống có ý nghĩa, công việc có ý nghĩa, hiểu về bản thân
- Thoả mãn, vui, thoải mái
- Xem thêm, tài liệu
- Đối tượng thụ hưởng
- Độ thân thiết giữa các tổ chức
- Megan, Cueball, Danish, Beret
- Vấn đề của tổ chức, thứ người ngoài thấy ở tổ chức
-
Ξ Nguồn:
-
Ξ Nguồn/Khoa học dữ liệu. Khoa học máy tính:
-
Ξ Nguồn/Kinh tế học:
-
Ξ Nguồn/Môi trường nghĩ, nhận thức tăng cường:
-
Ξ Nguồn/Quản lý dự án, phát triển sản phẩm, xây dựng tổ chức:
-
Ξ Nguồn/Tài liệu: